Tài liệu

  • Đại tư mã Nghiêm Tĩnh Nghiêm Tướng Công có tên húy là Tĩnh, tên thụy là Triệu Xương, sinh năm Kỷ Dậu (1189) thời Lý Cao Tông - Thiên Tư Gia Thụy tứ niên. Ông là ...
    Được đăng 11:16 13-03-2014 bởi Duc Nghiem
  • Bắc vệ Đại tướng quân Nghiêm Kế 嚴計  Nghiêm Kế (嚴計;1214-?) tên thụy là Thuần Công, người xã Lan Độ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc, nay là làng Quan Độ, xã Văn Môn ...
    Được đăng 11:21 13-03-2014 bởi Duc Nghiem
  • Đền Đại Tư Mã (Đền Đô) Đền Đại Tư Mã, còn gọi là Đền Đô hoặc Miễu Đô, là quần thể kiến trúc tín ngưỡng thờ quan Đại tư mã Nghiêm Tĩnh. Đền Đại Tư Mã ...
    Được đăng 22:08 12-10-2012 bởi Duc Nghiem
  • Tiến sĩ Nghiêm Phụ 嚴輔 Nghiêm Phụ (嚴輔; 1450-1514), tên tự là An Bảo, thụy Mai Hiên. Ông sinh năm Canh Ngọ đời vua Lê Nhân Tông niên hiệu Thái Hòa thứ 8 ...
    Được đăng 23:48 09-05-2014 bởi Duc Nghiem
  • Tiến sĩ Nghiêm Ích Khiêm 嚴益謙  Nghiêm Ích Khiêm (嚴益謙; 1459-1499), tên tự là Phúc Lợi, tên thụy là Bình Sơn, người xã Lan Độ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc, nay ...
    Được đăng 01:27 09-05-2014 bởi Duc Nghiem
  • Bia ghi chép về quan Nghiêm Giáo Thụ và Sắc Phong PHIÊN ÂM: NGHIÊM GIÁO THỤ BI KÝ      CÔNG TÍNH NGHIÊM HÚY SOẠN, HIỆU KÍNH GIẢN, LÃI NHÂN THỨ CÔNG CHI ĐỆ TAM NAM GIẢ ĐINH MÙI NIÊN SINH, CHIÊU THỐNG ...
    Được đăng 08:28 03-09-2012 bởi Duc Nghiem
  • Giai thoại Nghiêm Tuệ Minh Nghiêm Tuệ Minh có tên Húy là Địch, Tự Tuệ Minh. Sinh vào thời nhà Hồ, là con trai thứ hai của Cụ Nghiêm Hữu Trực (thụy Bình Tâm) và ...
    Được đăng 08:27 03-09-2012 bởi Duc Nghiem
  • Danh tướng Nghiêm Kế đời Trần tại làng Quan Độ Bài liên quan: - Bắc vệ Đại tướng quân Nghiêm Kế Tài liệu được trích từ Tạp chí Xưa & Nay số 345, 12 – 2009, tr XXI (Võ Thị Phương Thuý)  Làng ...
    Được đăng 08:28 03-09-2012 bởi Duc Nghiem
  • Đền thờ và thân thế sự nghiệp Đại Tư Mã Đền Đại Tư Mã (Đền Đô - Nhân dân thường gọi là Miễu Đô) - Nơi thờ tụng quan Đại Tư Mã Nghiêm Tĩnh - Triệu Xương Công. Tài liệu được trích từ ...
    Được đăng 11:19 13-03-2014 bởi Duc Nghiem
  • Thân thế sự nghiệp Nghiêm Ích Khiêm Nghiêm Tướng Công tên huý là Ích Khiêm, tự Phúc Lợi, thuỵ Bình Sơn, là võ tướng (quan văn rồi cải sang chức võ) đời Lê Thánh Tông (1442 – 1497 ...
    Được đăng 01:27 09-05-2014 bởi Duc Nghiem
  • GIA PHẢ HỌ NGHIÊM Tài liệu hiện được cập nhật và dịch từ Nghiêm Thị Thế Phả, Nghiêm Tính Gia Phả(1) , Nghiêm Tính Gia Kê(2)... cùng các tài liệu, bài viết, nội ...
    Được đăng 21:41 17-03-2014 bởi Duc Nghiem
Hiển thị bài đăng 1 - 11trong tổng số 11. Xem nội dung khác »

Đại tư mã Nghiêm Tĩnh

đăng 06:17 07-09-2012 bởi Duc Nghiem   [ đã cập nhật 11:16 13-03-2014 ]

Nghiêm Tướng Công có tên húy là Tĩnh, tên thụy là Triệu Xương, sinh năm Kỷ Dậu (1189) thời Lý Cao Tông - Thiên Tư Gia Thụy tứ niên. Ông là người kiên trung chính trực, rất ghét mê tín dị đoan, luôn luôn sống thẳng thắng và chân thật với mọi người và rất được mến phục.

Nghiêm Tĩnh là con trai của Lan thượng tướng Nghiêm Xã (hiệu Phúc Tường) và bà Đàm Thị (hiệu Từ Trinh); và là cháu của Tổng binh thiêm sự Nghiêm Yết (tự Phúc Thịnh) - người đã về sống ở thôn Đỗ Xã, sau này là xã Lan Độ, năm Nhâm Tuất (1802) đổi là Quan Độ.

Lúc nhỏ, Nghiêm Tĩnh theo học chữ Hán, sau đó chuyển sang học võ nghệ và binh pháp, qua bao năm học tập, ông thông hiểu binh pháp, văn võ kiêm toàn. Năm 25 tuổi, ông làm quan Đại tư mã kiêm Thị trung. Trải qua nhiều năm phụng sự Vương triều Lý - có nhiều công lao to lớn, ông được nhà vua phong tước Quận công, khi về quê nhà an dưỡng, ông được vua Lý ban cho 35 mẫu đất.

Khi qua đời, con cháu của ông chỉ biết tên húy là Tĩnh, còn tên thụy không ghi chép được, tới đời vua Lê - Vĩnh Hựu năm thứ 3, Đinh Tỵ (1737) hậu duệ của Nghiêm Tĩnh mới dâng tên thụy là Triệu Xương.

Ngày 20/2 ông tạ thế (1), mộ tại Miếu Đô Xứ hình thổ tinh (Bờ Long Xứ).

Dòng họ có dành 5 sào 7 thước làm tự điền và là nơi thờ cúng ông.

Chính thất phu nhân của Nghiêm Tĩnh là Lý Thị húy Phương Liên (hiệu Từ Tiên) xuất thân tôn thất Lý triều thiên hoàng chi đệ tam nữ. Nghiêm Tĩnh là bậc đại thần có tước vị cao quý nên bà cũng được ban tặng 3 chữ vàng: “Quận phu nhân”.

Ngày kỵ 16/1 thọ 81 tuổi.
Sinh hạ trưởng nam: Nghiêm Kế, thứ nam: Nghiêm Luận - Thượng tướng quân, hầu tước (Bốc cư tại Sơn Nam).

Nghiêm Tĩnh còn có 2 bà thiếp nhưng các ghi chép đều không còn và chỉ thấy 2 bà thủ tiết cùng chồng và mộ táng gần kề.

Ghi chú:
Lời người viết: (1) Theo cuốn gia phả được dịch bởi Nguyễn Chu (hiệu Thanh Khê) thì ngày kỵ của Nghiêm Tĩnh là 20/2 và ngày kỵ của chính thất thất truyền, nhưng theo cuốn của Cử nhân - Tri phủ Nghiêm Ưu Tắc thừa sao thì ngày kỵ của Nghiêm Tĩnh là 15/1, và ngày kỵ chính thất phu nhân là 16/1 (tức chỉ sau khi Nghiêm Tĩnh qua đời 1 ngày), và thực tế thì 2 bà thiếp cũng thủ tiết cùng chồng.


DMCA.com

Bắc vệ Đại tướng quân Nghiêm Kế

đăng 08:51 24-07-2012 bởi Duc Nghiem   [ đã cập nhật 11:21 13-03-2014 ]

嚴計 
Nghiêm Kế (嚴計;1214-?) tên thụy là Thuần Công, người xã Lan Độ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc, nay là làng Quan Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh. Ông là con trai trưởng của Quận công Đại tư mã Nghiêm Tĩnh (thụy Triệu Xương) và Quận phu nhân Lý Thị Phương (hiệu Từ Tiên); và là cháu nội của Lan thượng tướng Nghiêm Xã (hiệu Phúc Tường).

Nghiêm Kế vốn thông minh tài chí, văn võ kiêm thông, túc trí đa mưu và rất am hiểu võ nghệ. Ông là người có công lớn trong việc bảo vệ biên giớiđất nước và đánh đuổi giặc Nguyên-Mông xâm lượng nước ta thời Trần. Ông được nhà vua phong tặng bằng sắc: Đặc tiến phụ quốc - Bắc vệ Đại tướng quân và ban Hầu tước, rồi lên Công tước, tặng phong Thái bảo dũng Quận công.

Thân thế và sự nghiệp

Nghiêm Tướng Công có tên húy là Kế, thụy Thuần Công, là con trai trưởng của cụ Quận công Đại tư mã Nghiêm Tĩnh (thụy Triệu Xương) và bà Quận phu nhân Lý Thị Phương (hiệu Từ Tiên). Tướng côngNghiêm Tướng Công tên húy là Kế, thụy Thuần Công, sinh năm Giáp Tuất (1214 - thời Lý Huệ Tông - Kiến Gia năm thứ 4); là võ tướng đời Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông.

Tướng Công là con trai trưởng của Quận công Đại tư mã Nghiêm Tĩnh (thụy Triệu Xương) và Quận phu nhân Lý Thị Phương (hiệu Từ Tiên). Ông là cháu nội của Lan thượng tướng Nghiêm Xã (hiệu Phúc Tường).

Thuở nhỏ Nghiêm Kế theo học chữ nho và theo thân phụ thụ nghiệp tại kinh thành, rồi được thân phụ truyền lại binh pháp và thập bát ban võ nghệ. Vốn thông minh tài chí và ham học, đến tuổi thành niên ông được mọi người ca ngợi là một trang tuấn kiệt, văn võ kiêm thông, túc trí đa mưu.

Sau khi nhà Trần giành được ngôi báu, nắm quyền thiên hạ; đã mở nhiều cuộc thi văn võ để kén chọn nhân tài. Năm được cơ hội đó, Nghiêm Kế đã kịp thời ứng thí và giành được huân tích vẻ vang; vốn xuất thân thế gia lệnh tộc, ông càng được Nhà vua tin tưởng chọn làm vị tướng chỉ huy bảo vệ Hoàng thành.

Vào những năm Đinh Tỵ và Mậu Ngọ (1257-1258), đứng trước nguy cơ xâm lược của đế chế Mông Cổ, vua tôi nhà Trần đã khẩn cấp chuẩn bị chu đáo để bảo vệ non sông Đại Việt. Năm 1257, chúa Mông Cổ mở cuộc tiến công lớn nhằm tiêu diệt Nam Tống, đạo quân của Ngột Lương Hợp Nha (U-ri-ang-khai-đai) ở Vân Nam được lệnh tiến xuống đánh chiếm nước Đại Việt rồi từ đó hòng mở rộng gọng kìm đánh lên miền nam Trung Quốc nhằm phối hợp với 3 đạo quân từ phía Bắc đánh xuống.

Nắm được ý đồ đen tối của kẻ thù, các đạo quân thủy bộ dưới quyền chỉ huy của Trần Quốc Tuấn tiến lên bố trí phòng thủ biên giới. Lúc này, Nghiêm Kế được vua Trần Thái Tông cử làm Bắc vệ Đại tướng quân có nhiệm vụ trấn giữ ở biên giới phía Bắc.

Đầu năm 1258, quân địch theo lưu vực sông Hồng tiến vào xâm lược nước ta, thời gian đầu chúng tấn công ồ ạt vào trận địa quân ta. Để bảo toàn lực lượng, triều đình quyết định tạm thời rút khỏi kinh thành, quân giặc chiếm được thành Thăng Long, nhưng không tìm đâu ra bóng người và lương thực. Chỉ sau 9 ngày đóng quân giữa kinh thành vắng lặng và trống trải, quân địch đã gặp khó khăn về lương thực.

Chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh và cướp lương thực để nuôi quân của quân địch bị phá sản. Biết được thời cơ phản công đã đến, ngày 29/1/1258 (tức 24 tháng Chạp năm Mậu Ngọ), quân ta ngược dòng sông Hồng tiến lên mở cuộc tấn công quyết liệt vào Đông Bộ Đầu, quân địch bị đánh bật ra khỏi kinh thành, chúng theo dòng sông Hồng tháo chạy về phía Tây Bắc, trong cuộc truy kích đó, Nghiêm Kế đã dẫn một đội quân gồm hơn 700 binh lính đánh tung thâm vào đội hình quân giặc, lập chiến tích vẻ vang. Sau đó, Đức Trần Hưng Đạo còn giao cho ông hàng vạn binh sĩ, mở những trận huyết chiến tiêu diệt kẻ thù, Nghiêm Kế đã liên tiếp lập nhiều chiến công hiển hách. Cuối cùng giặc Nguyên-Mông bị thất bại nhục nhã và sau 1 tháng phải rút về đất nước với nôi cay đắng ê chề.

Sau khi đất nước trở lại thanh bình, vua Trần đã phong cho Nghiêm Kế là Đặc tiến phụ quốc - Bắc vệ Đại tướng quân và ban Hầu tước, rồi lên Công tước, tặng phong Thái bảo dũng Quận công, từ đây phu nhân của Nghiêm Kế là Nguyễn Quý Thị Ngọc Liên (hiệu Từ Cẩn) được ban hiệu Quận Phu Nhân.

Khi về già, Nghiêm Kế tạ thế tại kinh sư, về sau con cháu mang hài cốt ông về táng tại An Phong huyện, Xuân Lôi xã, Chân Lại Xứ tha ma. Sau này con cháu đặt mua một mẫu ruộng để làm tự điền. Nghiêm Kế mất ngày 3/2 âm lịch.

Trước Từ Đường thờ Nghiêm Kế có đôi câu đối ca ngợi ông như sau:

Bình Thát trừ hung an xã tắc
Phò Trần tá quốc cứu lê dân.
Hay câu:
Vĩ tích bình Mông vạn cổ phương danh thùy Bắc địa
Huân công hộ Quốc thu sự nghiệp trấn Nam thiên.
Nghĩa:
Thành tích Bình Nguyên muôn thuở tiếng thơm lừng đất Bắc
Công lao giúp nước ngàn thu sự nghiệp dậy trời Nam.

Chính thất của Nghiêm Kế là Nguyễn Quý Thị húy Ngọc Liên, hiệu Từ Cẩn, được vua phong tặng Quận phu nhân và ban tên thụy Huệ Phương. Bà là con gái rất mực yêu quý của Quận công Nguyễn Quý Vượng tại kinh sư. Bà mất ngày 5/5 âm lịch, thọ 89 tuổi, mộ táng cùng chồng.

Nghiêm Kế và phu nhân sinh hạ nhị nam:
- Trưởng nam: viết Mưu (tảo một)
- Thứ nam: viết Thức sinh năm Bính Ngọ thời Trần Thái Tông.

Đọc thêm:
DMCA.com

Đền Đại Tư Mã (Đền Đô)

đăng 20:57 23-07-2012 bởi Duc Nghiem   [ đã cập nhật 22:08 12-10-2012 ]

Đền Đại Tư Mã, còn gọi là Đền Đô hoặc Miễu Đô, là quần thể kiến trúc tín ngưỡng thờ quan Đại tư mã Nghiêm Tĩnh. Đền Đại Tư Mã đã được Nhà nước Việt Nam công nhận là Di tích lịch sử - Văn hóa theo quyết định số 74/VH-QĐ ngày 2/2/1993.

Bằng công nhận di tích Lịch sử Văn hóa Quốc Gia - Đền Đại Tư Mã (Đền Đô) - Quan Độ, Văn Môn, Yên Phong, Bắc Ninh
Đền Đại Tư Mã (Đền Đô) - Được cấp bằng Di tích Lịch sử - Văn hóa Quốc gia

Đền Đại Tư Mã tọa lạc trên khu đất xưa thuộc Bờ Lũng Xứ (sách cổ ghi là Bờ Long Xứ), phía Bắc làng Quan Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Đền nằm cách thủ đô Hà Nội 25 km về phía Bắc.

Đền thờ quan Đại tư mã Nghiêm Tĩnh (con rể vua Lý Cao Tông), chính thất Quận phu nhân Thiên hoàng chi đệ tam nữ Lý Thị Phương (hiệu Từ Tiên) cùng hai thê tử tại đền.

Đền Đại Tư Mã được khởi dựng từ thời Lý - Trần, qua bao lần trùng tu, tôn tạo, đến nay vẫn giữ được phong cách kiến trúc cổ, đậm đà bản sắc dân tộc.

(Tiếp tục cập nhật)


Đọc thêm:

Tiến sĩ Nghiêm Phụ

đăng 10:07 20-07-2012 bởi Duc Nghiem   [ đã cập nhật 23:48 09-05-2014 ]

嚴輔 
Nghiêm Phụ (嚴輔; 1450-1514), tên tự là An Bảo, thụy Mai Hiên. Ông sinh năm Canh Ngọ đời vua Lê Nhân Tông niên hiệu Thái Hòa thứ 8 (1450), là con trai duy nhất của Nghiêm Lý (thụy Chân Hòa) và bà Nguyễn Thị (hiệu Từ Nghi).

Lúc nhỏ ông theo chú ruột là Nghiêm Khắc Nhượng (thụy Ngũ Khê) học thuật(1), đầu tuổi thành niên, ông theo học tại trường Thái Học Sinh.

Năm 24 tuổi (1473), Nghiêm Phụ  dự khoa thi Hương và đỗ Tứ trường. Năm 28 tuổi, khoa thi Hương năm Đinh Dậu thời Hồng Đức năm thứ 8 (1477), ông đỗ Nho sinh Trúng thức. Năm 29 tuổi, khoa thi Hội năm Mậu Tuất thời Hồng Đức năm thứ 9 (1478), ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân và được nhà vua ban chức quan Gia hạnh Đại phu - Nghệ An đạo tán trị Thừa tuyên xứ - Tổng đốc (như Chủ tịch tỉnh bây giờ).

Về già, Nghiêm Phụ xin cáo lão hồi hương, ngày 21/9 năm Giáp Tuất (1514) ông tạ thế, thọ 64 tuổi. Mộ táng tại tộc điền tại xã Lan Đình.

Chính thất phu nhân là Chu Thị húy Tiểu (hiệu Từ Mỹ), là người xã An Khang (Yên Phụ), huyện An Phong (Yên Phong ngày nay). Bà là con gái duy nhất của Cử nhân Chu Lệnh Công và rất được cha yêu quí. Vốn xuất thân trong gia đình khoa bảng, bà suốt đời sống trọn vẹn với đạo "tam tòng tứ đức".

Mùa thu, ngày 15/8 Âm lịch, bà tạ thế thọ 79 tuổi, mộ táng cùng chồng.

Nghiêm Phụ và bà Từ Mỹ sinh hạ 4 người con, 2 nam, 2 nữ.
- Trưởng nam: Tên là Công Tương.
- Thứ nam: Tên là Công Phượng, đỗ Tú tài.

Bài liên quan:

Tiến sĩ Nghiêm Ích Khiêm

đăng 10:04 17-07-2012 bởi Duc Nghiem   [ đã cập nhật 01:27 09-05-2014 ]

嚴益謙 
Nghiêm Ích Khiêm (嚴益謙; 1459-1499), tên tự là Phúc Lợi, tên thụy là Bình Sơn, người xã Lan Độ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc, nay là làng Quan Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh. Ông là con trai của Nghiêm Khắc Nhượng và bà Hà Thị (hiệu Từ Nhân), là cháu nội của Nghiêm Địch (thụy Tuệ Minh).

Nghiêm Ích Khiêm nổi tiếng văn võ song toàn, có sức mạnh và thông hiểu binh pháp. Thi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân năm 1490 khi 31 tuổi, ông làm quan Đạt tín đại phu dưới triều Hậu Lê được ít lâu, cải qua chức võ được thăng Cẩm y vệ Đoán sự tư đoán sự - Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ và luôn luôn thường trực tại Điện Kim Quang - nơi nhà Vua làm việc.

Nghiêm Ích Khiêm là người học rộng tài cao, trung nghĩa đức nhân, được nhà Vua sủng ái, sĩ phu trọng vọng.




Nghiêm Tướng Công tên huý là Ích Khiêm, tự Phúc Lợi, thuỵ Bình Sơn, là võ tướng (quan văn rồi cải sang chức võ) đời Lê Thánh Tông (1442 – 1497), sinh vào năm Kỷ Mão (1459 - thời Lê Nhân Tông Diên Ninh lục niên - tức đời Vua Diên Ninh thứ 6) tại xã Lan Độ, tổng Mẫn Xá, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc, nay là làng Quan Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Tướng Công là con trai duy nhất của Nghiêm Khắc Nhượng (thụy Ngũ Khê) và bà Hà Thị (hiệu Từ Nhân). Nghiêm Ích Khiêm nổi tiếng văn võ song toàn, có sức mạnh và thông hiểu binh pháp. Thuở nhỏ, ông theo học chữ nho, mọi kinh sử đều không đạt, khoa thi Hội năm Canh Tuất đời Vua Hồng Đức năm thứ 21 (1490), Nghiêm Ích Khiêm đỗ Nhị giáp Tiến sĩ, đứng tên thứ 14, năm đó ông vừa tròn 31 mùa xuân. 

Khi Nhà vua cho về vinh qui bái tổ, ông có đi cùng đường với tiến sĩ Đàm Thận Huy cùng khoa, người xã Ông Mặc (nay là Hương Mạc - Từ Sơn), khi đi đường Nghiêm Ích Khiêm hỏi Nghè Huy:
- Chẳng hay hiền hữu đã có người sửa túi nâng khăn chưa?
Đàm Thận Huy cười đáp:
- Thưa thân huynh, đệ vẫn còn phòng không đón khách ạ !
- Nếu hiền hữu bằng lòng, tôi sẽ gả cô em gái cho. - Nghiêm Ích Khiêm vui vẻ nói.
- Nếu được như vậy thì đệ quả là diễm phúc. - Đàm Thận Huy đáp lại.

Thế rồi sau vài tháng, Cụ Nghè Huy đẹp duyên kim cải với em gái Cụ Nhị Giáp thôn Quan Độ. Từ đó hai thế gia lệnh tộc thông hiếu với nhau, cho đến nay 2 họ vẫn đi lại với nhau... thân tình lắm.

Sau khi trở lại đế kinh, Nhà vua thấy Nghiêm Ích Khiêm là người học rộng tài cao, dòng dõi thế phiệt nên đã ban cho quyền chức: Đạt tín đại phu - Cẩm y vệ Đoán sự ty - Đoán sự - Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ và luôn luôn thường trực tại Điện Kim Quang - nơi Nhà vua làm việc.

Trong khi làm quan, Nghiêm Ích Khiêm luôn đề cao phẩm hạnh: Trung nghĩa đức nhân, giữ trọn thần tiết với vua, với nước, do vậy ông đã được Nhà vua sủng ái, sĩ phu trọng vọng.

Ngày 30/5 năm Kỷ Mùi, đời vua Lê Hiến Tôn, Cảnh Thống năm thứ hai, Nghiêm Ích Khiêm tạ thế, thọ 41 tuổi. Mộ táng tại Xứ Đồng Ngọc - Đại tha ma.

Chính thất phu nhân của ông là người cùng xã, có tên hiệu là Từ Huệ, cũng thuộc dòng thế gia lệnh tộc. Ngày 26/9, bà trở về cõi Phật, mộ tại Đồng Ngọc Xứ - Đại tha ma.

Người con trai duy nhất của Nghiêm Ích Khiêm và bà Từ Huệ là Nghiêm Khải (thụy Hòa Phủ).

Ghi chú:

1. Kể về Nghiêm Ích Khiêm học rộng tài cao, có một tài liệu được đăng trên báo An Ninh Thế Giới đã lâu (khoảng năm 2003) nói về những Danh nhân tài giỏi nhất sinh năm Mão thì trong đó có Tiến sĩ Nghiêm Ích Khiêm, Hoàng Văn Thái... Nhưng không nhớ rõ chi tiết về bài báo. Bạn đọc nào có thông tin về bài báo này (Số, kỳ, năm đăng...), xin vui lòng liên hệ với chúng tôi hoặc để lại lời nhắn. Rất cảm ơn sự quan tâm của bạn đọc !

2. Trên bia đá tại Văn miếu Quốc tử giám (Hà Nội) có khắc danh Đệ nhị giáp Tiến sĩ Nghiêm Ích Khiêm khoa thi Canh Tuất đời Vua Hồng Đức thứ 21 (1490) tuy nhiên bức bia đá này hiện tại không còn và chỉ còn lại danh sách ghi lại khoa thi năm đó và ở văn bia đề danh tiến sĩ tại Văn miếu Bắc Ninh.
    
Hiện tại, bia đá khắc danh Tiến sĩ Nghiêm Phụ (người anh con nhà bác của Cụ Nghiêm Ích Khiêm) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, tại Văn miếu khoa thi Hội Mậu Tuất (1478).

DMCA.com

Bia ghi chép về quan Nghiêm Giáo Thụ và Sắc Phong

đăng 08:24 14-07-2012 bởi Duc Nghiem   [ đã cập nhật 08:28 03-09-2012 ]

PHIÊN ÂM: 


NGHIÊM GIÁO THỤ BI KÝ  

    CÔNG TÍNH NGHIÊM HÚY SOẠN, HIỆU KÍNH GIẢN, LÃI NHÂN THỨ CÔNG CHI ĐỆ TAM NAM GIẢ ĐINH MÙI NIÊN SINH, CHIÊU THỐNG NGUYÊN NIÊN, ẤT DẬU NIÊN HOÀNG TRIỀU MINH MỆNH NHẤT NIÊN. HƯƠNG THÍ TRÚNG CỬ NHÂN, SĨ CHÍ HÀN LÂM VIỆN ĐIỂN BẠ, HẬU THỤ CHỨC TỪ SƠN PHỦ GIÁO THỤ - NGŨ THẬP LỤC TUẾ - CHÍ SĨ - CÔNG HỒI HƯƠNG KHAI TRƯỜNG GIẢNG ĐẠO - NHO SINH SĨ TỬ TÒNG HỌC THẬM ĐA - PHỎNG TAM BÁCH NHÂN DƯ - CANH THÂN NIÊN - THỜI TỰ ĐỨC THẬP TAM NIÊN - TAM NGUYỆT THẬP NHẤT NHẬT MỘT - THỌ THẤT THẬP TỨ TUẾ.


SẮC PHONG

    SẮC CỬ NHÂN NGHIÊM DANH SOẠN - BẮC NINH TỈNH - TỪ SƠN PHỦ - ĐÔNG NGÀN HUYỆN - MẪN XÁ TỔNG - QUAN ĐỘ XÃ - KHOA MỤC XUẤT THÂN KHẢ KHAM GIÁO CHỨC - TƯ LẠI BỘ NGHỊ BỔ CỤ ĐỀ CHUẨN NHĨ BỔ THỤ. TỪ SƠN PHỦ GIÁO THỤ, PHÀM GIẢNG TẬP KHẢO HẠCH CHƯ CÔNG VỤ Y LỆ PHỤNG HÀNH - NHƯỢC QUYẾT CHỨC PHẤT TU MINH CHƯƠNG CỤ TẠI - KHÂM TAI.


MINH MỆNH BÁT NIÊN LỤC NGUYỆT THẬP TỨ NHẬT


BẢN DỊCH:


BIA GHI CHÉP VỀ QUAN GIÁO THỤ HỌ NGHIÊM

    Ông là người họ Nghiêm, có tên húy là Soạn, tên hiệu là Kính Giản.
    Là con trai thứ ba cụ Nhân Thứ, sinh năm Đinh Mùi đời Vua Lê Chiêu Thống năm đầu tiên.

    Khoa Ất Dậu đời vua Minh Mệnh năm thứ bẩy, ông dự khoa thi Hương, trúng Cử nhân, làm quan tới chức Hàn lâm viện Điểm bạ. Sau giữ chức Giáo thụ(1) phủ Từ Sơn. Năm 56 tuổi, ông về chí sĩ mở trường dạy học tại quê hương. Học trò theo học rất đông, có tới hơn 300 người. Năm Canh Thân đời Vua Tự Đức năm thứ 13 vào ngày 17 tháng 3 ông tạ thế. Thọ 74.


SẮC PHONG

    Ban sắc cho Nghiêm Danh Soạn.

    Quê quán: Xã Quan Độ - Tổng Mẫn Xá - Huyện Đông Ngàn - Phủ Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh.

    Xuất thân từ khoa mục, có khả năng nhận giáo chức.
    Vậy tư cho Bộ lại nghị bổ cho Nghiêm Danh Soạn giữ chức Giáo thụ Phủ Từ Sơn để vừa giảng dạy, vừa khảo hạch cho các nho sinh, mọi công việc cứ theo đúng thể lệ mà thi hành.

                                                                                        KÍNH CẨN VẬY THAY
Ngày 4 tháng 6 đời Vua Minh Mệnh năm thứ 8.




Ghi chú: (1) Quan Giáo thụ Phủ Từ Sơn thời xưa tương đương với Trưởng phòng Giáo dục hiện nay.

Giai thoại Nghiêm Tuệ Minh

đăng 08:23 14-07-2012 bởi Duc Nghiem   [ đã cập nhật 08:27 03-09-2012 ]


Nghiêm Tuệ Minh có tên Húy là Địch, Tự Tuệ Minh. Sinh vào thời nhà Hồ, là con trai thứ hai của Cụ Nghiêm Hữu Trực (thụy Bình Tâm) và bà Lý Thị Huyền (hiệu Trinh Hạnh). Ông là người hoạt bát, tài trí, đối nhân xử thế vẹn lẽ cương nhu.

Năm lên 7 tuổi, Nghiêm Tuệ Minh mồ côi cha mẹ, thời kỳ đó nước ta đang buổi nhiễu nhương, nhà Minh đem quân xâm lấn và mưu toan áp đặt nền đô hộ. Một hôm quân giặc tràn vào làng, một người lính nhà Minh thấy ông hồi đó là một cậu bé khôi ngô và bắt về Vân Nam nuôi nấng. Khi lớn lên, thấy ông là người siêng năng, cần mẫn lại thông thạo việc mua bán, ông ta yêu vô cùng.

Thời gian cứ dần trôi qua, Nghiêm Tuệ Minh vẫn sống nơi tha hương muôn dặm, rồi một buổi sáng có người bảo với ông rằng, "Anh vốn gốc là người nước Nam, làng anh ở gần làng Đại Đình (Đình Cổ Mặc xưa gọi là Đại Đình, nay là Hương Mặc) chứ không phải anh là con ông ta đâu! Nếu anh có chí khí thì nên tìm đường về nhà, chứ ở nơi đất khách quê người làm gì?".

Từ khi nghe được câu chuyện đó, suốt bao ngày ông suy nghĩ để tìm kế hồi hương.

Thông thường mỗi năm, Nghiêm Tuệ Minh qua lại nước Nam để bán ngựa, do đó mọi đường đi lối lại ông đều thông thạo như những đường vạch trên bàn tay. Một hôm ông ngỏ lời người Minh: "Hiện nay ở nước Nam đã ít đánh nhau, tình hình ở nhiều nơi có bề yên ổn, tôi thấy ở chợ Phù Lưu giá ngựa rất cao, bán được nhiều tiền. Vậy ông tìm nhiều ngựa cho tôi đem bán, ắt hẳn sẽ thu được nhiều lãi", ông ta nghe vậy rất bằng lòng. Từ đó Nghiêm Tuệ Minh đem ngựa qua nước Nam nhiều lần, mấy chuyến liền, ông được rất nhiều lãi, khi trở về Vân Nam, ông đưa tiền cho ông ta nên rất được yêu mến và tin tưởng

Sau khi đã rõ ra quê cũ, Nghiêm Tuệ Minh lại xin đem ngựa về bán ở nước Nam. Kỳ này ông quyết định trở về nơi cố lý, khi về tới nhà thì ông tìm lại được người anh là Nghiêm Mặc nhưng người làng thì mất gần hết. Từ đó, ông cùng những người còn lại phân chia ruộng làng và tiếp tục liên canh, thời gian này ông đã 19 tuổi.

Trong gần 12 năm lưu lạc quê người, Nghiêm Tuệ Minh luôn sống gần thầy địa lý, khi thấu huyệt tốt hoặc kiểu đất đẹp, thầy dạy lại tường tận cho ông, nhân đó ông hiểu được khoa phong thủy. Khi về nước ông còn mua nhiều sách về lý số, về văn sử, về địa lý, rồi đêm ngày nghiền ngẫm, khảo cứu tinh tường; thấy ngôi mộ nào chưa được, hoặc ai nhờ xem đất để táng, ông  sẵn sàng làm giúp. Về sau, những sách ấy ông đem thiêu bằng hết.

Nghiêm Tuệ Minh được quan trên bổ làm Tổng chánh Tổng nhà. Ngày 6/12 ông qua đời, thọ 90 tuổi, mộ táng tại xứ Đồng Ngọc.

Cụ bà tên là Nguyễn Thị hiệu Từ Mẫn người cùng xã, không rõ ngày mất, mộ táng tại xứ Đồng Ngọc - Đại tha ma.

Do Nghiêm Tuệ Minh đặt được ngôi mộ tiếp phúc (bố) nên hai con trai ông đều trúng Cử nhân, hai cháu trai là Nghiêm Phụ và Nghiêm Ích Khiêm đều trúng Tiến sĩ. Từ đó về sau, nhiều người đỗ đạt, chính là do công lao của ông vậy.

Sinh hạ 2 trai:
- Nghiêm Lý (thụy Chân Hòa) - Cử nhân.
- Nghiêm Khắc Nhượng (thụy Ngũ Khê) - Cử nhân.


Đọc thêm:

Danh tướng Nghiêm Kế đời Trần tại làng Quan Độ

đăng 08:13 14-07-2012 bởi Duc Nghiem   [ đã cập nhật 08:28 03-09-2012 ]

Bài liên quan: 

 Tài liệu được trích từ Tạp chí Xưa & Nay số 345, 12 – 2009, tr XXI 
(Võ Thị Phương Thuý)  

Làng Quan Độ và dòng họ Nghiêm 

Làng Quan Độ (hay còn gọi là Kẻ Đọ, nay là thôn Quan Độ, xã Văn Môn (1), huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) vốn là một làng quê văn hiến với nhiều giá trị văn hoá, lịch sử quý giá vẫn được giữ gìn qua nhiều thế hệ. Ngày nay, Quan Độ trở thành một làng quê năng động trong thời kỳ đổi mới kinh tế, trở nên giàu có và nổi tiếng bởi các ngành nghề thủ công như: ủ men, nấu rượu, đúc xoong nồi, buôn bán phế liệu. Dòng họ Nghiêm với di tích lịch sử là đền thờ - nhà thờ họ đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá đã và đang góp phần vào việc gìn giữ những giá trị văn hoá của làng Quan Độ.

Về vị trí địa lý, Quan Độ phía Bắc giáp với làng Quan Đình; phía Nam giáp với sông Ngũ Huyện và làng Hương Mạc (làng Me); phía Đông giáp làng Tiền Thôn; phía Tây giáp huyện Đông Anh, Hà Nội. Làng nằm cách Hà Nội khoảng 50 km về phía Tây Bắc và có nhiều tuyến đường có thể đến Quan Độ: tuyến chạy qua huyện Gia Lâm, tới thị trấn Từ Sơn, rẽ trái theo đường 295 là có thể tới làng Quan Độ; tuyến đi qua huyện Sóc Sơn, theo đường 286 cũng có thể tới làng Quan Độ.

Ngày nay, dân làng Quan Độ còn truyền tụng những câu chuyện lịch sử về xuất xứ của tên làng. Tên Nôm làng thường gọi là Kẻ Đọ, một tên gọi của dân gian mà ta vẫn thường gặp ở nhiều làng cổ ở Đồng bằng Bắc bộ xung quanh Kẻ Đọ như Kẻ Me (Hương Mạc), Kẻ Đóm (Vân Điềm), Kẻ Cời (Đồng Kỵ), Kẻ Báng (Đình Bảng)… Ngoài ra, làng Quan Độ còn có tên chữ là Đỗ Xá. Trước đây, làng Đỗ Xá thuộc xã Lan Đình. Sau đó, Đỗ Xá tách thành một xã riêng với tên Lan Độ. Theo tích truyện còn truyền lại, tên gọi này bắt nguồn từ tên gọi của Hoàng Thái hậu Ỷ Lan. Truyện kể rằng, một lần Hoàng Thái hậu đi thăm chiến tuyến sông Cầu, bà có nghỉ chân tại làng. Từ đó, dân làng đổi tên làng mình thành Lan Độ, ghi nhớ dấu tích của Hoàng Thái hậu Ỷ Lan. Năm Gia Long thứ nhất (1802), vì tên Lan phạm huý của bà Hoàng hậu của vua là Tống Thị Lan (Thừ Thiên Cao Hoàng hậu) nên đổi thành Quan Độ.

Làng Quan Độ trước kia có nhiều dòng họ cùng sinh sống. Theo lời các cụ cao niên kể lại thì trước đây làng có tới 12 dòng họ, song nay chỉ còn lại một số họ chính như họ Nghiêm, họ Đặng, họ Nguyễn Vương, họ Vũ, họ Tiến. Các dòng họ lớn trước đây, còn các họ nhỏ hơn thì hợp thành giáp tả. Điều này cho thấy, tổ chức tộc họ của làng Quan Độ không chỉ chặt chẽ mà còn có tiếng nói quan trọng trong cơ cấu làng xã.

Họ Nghiêm được coi là một trong những dòng họ lớn nhất của làng Quan Độ từ xưa tới nay. Hiện nay, họ Nghiêm có khoảng 400 suất đinh (2). Dòng họ này không chỉ gìn giữ và tôn tạo được một ngôi đền thờ - nhà thờ họ khang trang mà còn lưu giữ được những tài liệu quý giá ghi chép về lịch sử dòng họ: Nghiêm thị thế phả, Nghiêm thị gia kê, Lịch đại sự tích, Gia phả lược biên, Thế phả giản yếu…

Trong tay chúng tôi hiện có được bản Nghiêm tính gia phả, ký hiệu: A.3061, gồm 50 trang chữ Hán, khổ giấy 21 cm x 14 cm. Qua bản gia phả này ta được biết thêm nhiều thông tin về dòng họ Nghiêm ở làng Quan Độ.

Bản gia phả này cho biết, cụ Nghiêm Yết, đến Quan Độ vào thời Lý. Trong quá khứ, dòng họ này đã có những danh nhân làm rạng danh dòng họ không chỉ ở văn nghiệp mà còn ở võ nghiệp.

Truyền thống của dòng họ Nghiêm không chỉ được tiếp nối ở con đường võ nghiệp mà còn ở cả sự nghiệp khoa cử, đỗ đạt. Cụ Đại tư mã Nghiêm Tĩnh đã mở đầu truyền thống tốt đẹp của dòng họ với những công trạng hiển hách được đời đời lưu truyền. Gia phả họ Nghiêm chép rằng, cụ là người văn võ kiêm toàn, sống thẳng thắn và chân thực với mọi người. Thuở nhỏ cụ có theo học chữ Nho, sau chuyển sang học võ nghệ và binh pháp. Năm 25 tuổi, dưới thời vua Lý Cao Tông, cụ làm quan võ, lên tới chức Đại tư mã kiêm Thị trung, sau được vua phong tước Quận Công.


Danh tướng Nghiêm Kế

Gia phả họ Nghiêm làng Quang Độ còn ghi chép khá đầy đủ về thân thế và công trạng hiển hách của vị tướng tài trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ nhất là Nghiêm Kế.

Theo Gia phả, Nghiêm Kế thuỵ là Thuần Công, là con trai trưởng của quan Đại tư mã Nghiêm Tĩnh và phu nhân Từ Tiên. Không thấy ghi năm sinh cụ thể mà chỉ biết ông sinh vào cuối đời Lý Huệ Tông (1211 – 1224). Một điều đặc biệt là Gia phả ghi ông mất tại kinh thành, táng tại xã Xuân Lôi, huyện yên Phong (nay thuộc xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) và tại nơi này, trước có một mẫu ruộng tự điền lo việc cúng tế ông. Tại sao ông lại được táng tại mảnh đất này? Đến nay vẫn chưa có cơ sở nào có thể giải thích được điều này. Như vậy là hiện nay, ông được táng ở một nơi và thờ ở một nơi, hai nơi này cách xa nhau hàng chục km.

Công trạng hiển hách nhất của ông phải kể đến là chiến công phò giúp vua Trần đánh tan cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên – Mông (1257 – 1258). Sự thực, các bộ chính sử, sử biên niên đều không thấy nhắc tới công trạng của Tướng quân Nghiêm Kế trong cuộc kháng chiến này. Tuy nhiên, trong một cuộc chiến lớn như vậy, những vị tướng có đóng góp công sức cho một thắng lợi vẻ vang ắt phải rất nhiều. Những bộ chính sử với tư cách là những bộ sử chép hành trạng của nhà vua và triều đình thì không thể ghi chép đầy đủ tới từng vị tướng. Vì thế, việc không thấy ghi tên tướng quân Nghiêm Kế trong các bộ chính sử là điều dễ hiểu.

Song thật may mắn, nguồn sử liệu Gia phả họ Nghiêm đã bổ khuyết những thiếu sót ấy. Công trạng của vị tướng Nghiêm Kế đã được Gia phả họ Nghiêm ghi lại khá chi tiết và cụ thể. Một hạn chế của nguồn sử liệu này như sự thêu dệt những sự kiện, chi tiết lịch sử cho phù hợp với mục đích là một cuốn sử của một gia tộc, thì hành trạng của tướng quân Nghiêm Kế trong Gia phả đã cho chúng ta biết khá đầy đủ về vị tướng tài danh này.

Chỉ với mấy dòng ngắn gọn ghi trong Gia phả, ta có thể thấy rõ được công lao của ông đối với cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông của nhà Trần. Gia phả ghi ông hưng binh với 700 quân, lập được chiến công và được phong làm Quốc Bình Hàn. Từ điển Hán - Việt cho biết, Bình Hàn là chức mà thiên tử thường phong cho các công thần làm chư hầu để che chở cho nhà vua. Vậy có thể thấy, nếu Nghiêm Kế được phong chức này thì chứng tỏ ông là người có công lớn trong công cuộc giúp rập nhà Trần qua cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông.

Hiện nay, trong hậu cung đền thờ còn truyền ghi câu đối về công trạng của ông: 


Phiên âm:

Sát Thát trừ hung an xã tắc

Phù Trần tá quốc cứu lê dân

Dịch nghĩa:

Giết giặc trừ hung an xã tắc

Phù Trần giúp nước cứu lương dân.

Hay câu Phiên âm:

Vĩ tích bình Nguyên vạn cổ phương danh thuỳ Bắc địa

Huân cao tá quốc thiên niên sự nghiệp chấn Nam thiên

Dịch nghĩa:

Thành tích Bình Nguyên muôn thuở tiếng thơm lừng đất Bắc

Công lao giúp nước ngàn thu sự nghiệp dậy trời Nam. 



Đền thờ Nghiêm Kế

Đền thờ danh tướng Nghiêm Kế hiện nay nằm phía Tây làng Quan Độ đồng thời cũng là nhà thờ chung của dòng họ Nghiêm. Hàng năm, cứ đến ngày giỗ kỵ thuỷ tổ và ngày xuân tế (mồng 10 tháng 3 Âm lịch), con cháu dòng họ từ khắp mọi miền Tổ quốc quy tụ về đền thờ để tưởng nhớ tổ tiên. 

Cổng đền được xây theo lối tam quan với 4 đôi câu đố khắc nổi phía trong và phía ngoài cổng. Phía trên cổng có ghi 4 chữ: Nghiêm Tướng công từ (Đền thờ Nghiêm Tướng công). 

Theo lối đi nhỏ từ cổng tam quan vào là ngôi đền khang trang với 5 gian nhà ngoài và 3 gian hậu cung. Gian chính giữa hậu cung thờ Tướng công Nghiêm Kế, hai gian hai bên thờ các vị tổ của họ Nghiêm. 

Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng, trước đây ngôi đền này là một cụm kiến túc cổ, có quy mô lớn. Toàn bộ khu di tích trước đây được xây dựng trên 1 mẫu Bắc bộ với hai toà nhà chính là đền thượng và đền hạ. Mỗi toà đều có 3 gian, khung nhà bằng gỗ lim với những chạm khắc tinh xảo, mái ngói, tường gạch. Ngoài ra, khu di tích còn có sân vườn rộng rãi, bao quanh là tường đất kiên cố, một mặt trồng tre, một mặt trồng nhãn. Con cháu họ Nghiêm không còn nhớ rõ khu đền này được xây dựng từ khi nào, chỉ biết trong thời gian kháng chiến chống Pháp, ngôi đền bị phá huỷ gần như hoàn toàn. Sau này, gia tộc họ Nghiêm đã huy động con cháu công đức, tôn tạo lại khu đền để có chỗ thờ tự tổ tiên tươm tất. 

Năm 1995, khu đền được công nhận là Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia. Ngôi đền vì thế được Nhà nước hỗ trợ trùng tu lại với vẻ khang trang như chúng ta thấy ngày nay. 




1/ Xã Văn Môn nay gồm 5 thôn (làng): Quan Độ, Quan Đình, Phù Xá, Mẫn Xá và Tiền Thôn. 

2/ Theo lời kể của ông Nghiêm Xuân Khoái, cháu 20 đời của Nghiêm Kế. Theo số liệu năm 1995 thì họ có 351 suất đinh và 611 khẩu.

Võ Thị Phương Thuý - Xưa & Nay, số 345, 12 – 2009, tr XXI

Đền thờ và thân thế sự nghiệp Đại Tư Mã

đăng 08:10 14-07-2012 bởi Duc Nghiem   [ đã cập nhật 11:19 13-03-2014 ]


Đền Đô (Miếu Đô) - Nơi thờ tụng Quan Đại Tư Mã - Nghiêm Triệu Xương

Đền Đại Tư Mã (Đền Đô - Nhân dân thường gọi là Miễu Đô) - Nơi thờ tụng quan Đại Tư Mã Nghiêm Tĩnh - Triệu Xương Công.

Tài liệu được trích từ nội dung trên bia đá tại Đền thờ.

    ĐỀN THỜ ĐẠI TƯ MÃ THƯỜNG GỌI LÀ ĐỀN ĐÔ TỌA LẠC TRÊN KHU ĐẤT THUỘC BỜ LONG XỨ (CÒN GỌI LÀ KHU MIỄU ĐÔ) NẰM Ở PHÍA BẮC LÀNG QUAN ĐỘ, XÃ VĂN MÔN, HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH. THEO GIA PHẢ HỌ NGHIÊM ĐỀN ĐÔ ĐƯỢC KHỞI DỰNG TỪ THỜI HẬU LÊ, TRẢI TRƯỜNG KỲ LỊCH SỬ CÔNG TRÌNH ĐÃ QUA BAO LẦN TRÙNG TU, TÔN TẠO NHƯNG ĐẾN NAY VẪN GIỮ ĐƯỢC PHONG CÁCH KIẾN TRÚC CỔ, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC.

    ĐỀN ĐÔ THỜ QUAN ĐẠI TƯ MÃ - DANH TƯỚNG THỜI LÝ, CÓ NHIỀU CÔNG LAO TO LỚN VỚI NƯỚC VỚI DÂN. TƯỚNG     CÔNG LÀ HẬU DUỆ ĐỜI THỨ 9 CỦA HỌ NGHIÊM - GIA TỘC CÓ TRUYỀN THỐNG VĂN HIẾN VẺ VANG, NỐI ĐỜI CÓ NGƯỜI LÀM QUAN LỚN TRONG TRIỀU ĐÌNH; ĐƯƠNG THỜI ĐƯỢC THIÊN HẠ CA NGỢI LÀ GIA TỘC "THẬP ĐẠI LIÊN ĐĂNG QUAN TRIỀU":

    THỦY TỔ - NGHIÊM TƯỚNG CÔNG, HIỆU PHÚC LÝ, SINH NĂM ẤT DẬU, NIÊN HIỆU THIÊN PHÚC THỜI TIỀN LÊ, ĐỜI VUA LÊ ĐẠI HÀNH (985), LÀM QUAN ĐIỆN TIỀN CHỈ HUY SỨ, TƯỚC HẦU.

    NGHIÊM-PHÚC-TÂM - CON CỤ PHÚC LÝ, SINH NĂM CANH TUẤT, NIÊN HIỆU THUẬN THIÊN ĐỜI VUA LÝ CÔNG UẨN (1010), LÀM QUAN ĐÔ HIỆU ĐIỂM, TƯỚC THƯỢNG VŨ HẦU, CÓ CÔNG CÙNG TƯỚNG LÊ PHỤNG HIỂU ĐÁNH DẸP LOẠN “TAM VƯƠNG” PHÒ GIÚP VUA LÝ-PHẬT-MÃ LÊN NGÔI VUA, TỨC LÝ-THÁNH-TÔNG.

    NGHIÊM-PHÚC-TUẤN - CON CỤ PHÚC TÂM, SINH NĂM GIÁP THÂN, NIÊN HIỆU THIÊN CẢM - THÁNH VÕ (1044), LÀM QUAN LONG VIỆT THƯỢNG TƯỚNG QUÂN, TƯỚC QUẬN CÔNG.

    NGHIÊM-PHÚC-LƯỢNG CON CỤ PHÚC TUẤN, SINH NĂM GIÁP THÌN, NIÊN HIỆU CHƯƠNG THÁNH - GIA KHÁNH (1064), LÀM QUAN TỚI CHỨC ĐÔ HIỆU ĐIỂM, PHÒ VUA LÝ-NHÂN-TÔNG.

    NGHIÊM-TÙNG, CON CỤ PHÚC-LƯỢNG, SINH NĂM KỶ TỴ, NIÊN HIỆU QUẢNG HỰU (1089), LÀM QUAN VIÊN NGOẠI LANG PHÒ VUA LÝ-NHÂN-TÔNG.

    NGHIÊM-CAO CON CỤ NGHIÊM-TÙNG, SINH NĂM NHÂM THÌN NIÊN HIỆU HỘI TƯỜNG ĐẠI KHÁNH (1112), LÀM QUAN HÀN LÂM VIỆN HỌC SỸ..

    NGHIÊM-YẾT - CON CỤ NGHIÊM-CAO, SINH NĂM KỶ MÙI, NIÊN HIỆU THIỆU MINH - ĐẠI ĐỊNH (1139), LÀM QUAN TỚI CHỨC TỔNG BINH THIÊM SỰ, TƯỚC HẦU, PHÒ VUA LÝ-ANH-TÔNG.

    NGHIÊM-XÃ, CON CỤ NGHIÊM-YẾT, SINH NĂM GIÁP THÂN, NIÊN HIỆU CHÍNH LONG BẢO ỨNG (1164), LÀM QUAN TỚI CHỨC THƯỢNG TƯỚNG QUÂN, TƯỚC HẦU, PHÒ VUA LÝ-ANH-TÔNG. 

    NGHIÊM-TĨNH, TỰ PHÚC HẬU, THỤY TRIỆU-XƯƠNG, CON CỤ NGHIÊM-XÃ, SINH NĂM KỶ DẬU, NIÊN HIỆU THIÊN TƯ - GIA THỤY (1189), LÀM QUAN ĐẠI TƯ MÃ, TƯỚC QUẬN CÔNG, PHÒ GIÚP VUA LÝ-CAO-TÔNG. TỪ THỜI NIÊN THIẾU TƯỚNG CÔNG ĐÃ CÓ CHÍ THÔNG MẪN HƠN NGƯỜI, NĂM 25 TUỔI ĐƯỢC PHONG TỚI CHỨC ĐẠI TƯ MÃ, KIÊM THỊ TRUNG, TƯỚC QUẬN CÔNG. KHI TRỞ VỀ QUÊ AN TRÍ, TƯỚNG CÔNG ĐƯỢC VUA BAN CẤP 35 MẪU LỘC ĐIỀN. TƯỚNG CÔNG CÓ HAI VỊ PHU NHÂN: CHÍNH THẤT LÀ LÝ PHƯƠNG LIÊN - CÔNG CHÚA NHÀ LÝ - THÂN MẪU CỦA TIÊN SINH NGHIÊM-KẾ SINH NĂM GIÁP TUẤT, NIÊN HIỆU KIẾN GIA (1214), LÀM QUAN TỚI CHỨC ĐẶC TIẾN PHỤ QUỐC BẮC VỆ ĐẠI TƯỚNG QUÂN – TẶNG PHONG THÁI BẢO DŨNG QUẬN CÔNG VÀ NGHIÊM-LUẬN LÀM QUAN TỚI CHỨC THƯỢNG TƯỚNG QUÂN, TƯỚC HẦU. VỊ PHU NHÂN THỨ HAI TÊN TUỔI BỊ THẤT TRUYỀN. TƯỚNG CÔNG TẠ THẾ NGÀY 15 THÁNG GIÊNG, CHÍNH THẤT QUA ĐỜI NGÀY 16 THÁNG GIÊNG ÂM LỊCH, THỌ 80 TUỔI. MỘ PHẦN CỦA TƯỚNG CÔNG ĐƯỢC SONG TÁNG GIỮA HAI MỘ PHU NHÂN,ẰNM TRONG KHUÔN VIÊN DI TÍCH ĐỀN ĐÔ NGAY TẠI QUÊ NHÀ. 

    SAU KHI QUAN ĐẠI TƯ MÃ QUA ĐỜI, TRIỀU ĐÌNH ĐÃ BAN TẶNG SẮC PHONG, GIAO CHO GIA TỘC VÀ NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG LẬP ĐỀN THỜ PHỤNG. 

     ĐẾN THỜI KỲ NHÀ HẬU LÊ, CÁC HẬU DUỆ CỦA GIA TỘC CÓ NHIỀU VỊ THI ĐỖ ĐẠI KHOA, TRUNG KHOA, CỬ NHÂN, TÚ TÀI. TIÊU BIỂU NHƯ: NGHIÊM-PHỤ SINH NĂM QUÝ DẬU, NIÊN HIỆU THÁI-HÒA (1453) ĐỖ TIẾN SỸ NĂM 26 TUỔI, LÀM QUAN ĐẾN CHỨC THỪA CHÁNH SỨ; NGHIÊM-ÍCH-KHIÊM, SINH NĂM KỶ MÃO, NIÊN HIỆU THIÊN HƯNG (1459), ĐỖ HOÀNG GIÁP NĂM 32 TUỔI, LÀM QUAN CẨM Y VỆ ĐÔ CHỈ HUY SỨ....

    ĐỀN THỜ ĐẠI TƯ MÃ ĐƯỢC BỘ VĂN HÓA XẾP HẠNG LÀ DI TÍCH LỊCH SỬ CẤP QUỐC GIA, QUYẾT ĐỊNH SỐ 74 QĐ/BT NGÀY 02 THÁNG 02 NĂM 1993.

    ĐỀ PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA CHA ÔNG, CÁC HẬU DUỆ HỌ NGHIÊM QUAN ĐỘ ĐÃ HƯNG CÔNG KHẮC BIA ĐÁ DỰNG TẠI ĐỀN ĐÔ. NỘI DUNG VĂN BIA ĐƯỢC HỘI ĐỒNG GIA TỘC HỌ NGHIÊM VÀ ÔNG LE VIẾT NGA - GIÁM ĐỐC BẢO TÀNG BẮC NINH CÙNG PHỤNG SOẠN.

BẢO TÀNG BẮC NINH

(Tài liệu được trích từ nội dung trên bia đá tại Đền thờ)

DMCA.com

Thân thế sự nghiệp Nghiêm Ích Khiêm

đăng 08:09 14-07-2012 bởi Duc Nghiem   [ đã cập nhật 01:27 09-05-2014 ]


Nghiêm Tướng Công tên huý là Ích Khiêm, tự Phúc Lợi, thuỵ Bình Sơn, là võ tướng (quan văn rồi cải sang chức võ) đời Lê Thánh Tông (1442 – 1497), sinh vào năm Kỷ Mão (1459 - thời Lê Nhân Tông Diên Ninh lục niên - tức đời Vua Diên Ninh thứ 6) tại xã Lan Độ, tổng Mẫn Xá, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc, nay là làng Quan Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Tướng Công là con trai duy nhất của Nghiêm Khắc Nhượng (thụy Ngũ Khê) và bà Hà Thị (hiệu Từ Nhân). Nghiêm Ích Khiêm nổi tiếng văn võ song toàn, có sức mạnh và thông hiểu binh pháp. Thuở nhỏ, ông theo học chữ nho, mọi kinh sử đều không đạt, khoa thi Hội năm Canh Tuất đời Vua Hồng Đức năm thứ 21 (1490), Nghiêm Ích Khiêm đỗ Nhị giáp Tiến sĩ, đứng tên thứ 14, năm đó ông vừa tròn 31 mùa xuân. 

Khi Nhà vua cho về vinh qui bái tổ, ông có đi cùng đường với tiến sĩ Đàm Thận Huy cùng khoa, người xã Ông Mặc (nay là Hương Mạc - Từ Sơn), khi đi đường Nghiêm Ích Khiêm hỏi Nghè Huy:
- Chẳng hay hiền hữu đã có người sửa túi nâng khăn chưa?
Đàm Thận Huy cười đáp:
- Thưa thân huynh, đệ vẫn còn phòng không đón khách ạ !
- Nếu hiền hữu bằng lòng, tôi sẽ gả cô em gái cho. - Nghiêm Ích Khiêm vui vẻ nói.
- Nếu được như vậy thì đệ quả là diễm phúc. - Đàm Thận Huy đáp lại.

Thế rồi sau vài tháng, Cụ Nghè Huy đẹp duyên kim cải với em gái Cụ Nhị Giáp thôn Quan Độ. Từ đó hai thế gia lệnh tộc thông hiếu với nhau, cho đến nay 2 họ vẫn đi lại với nhau... thân tình lắm.

Sau khi trở lại đế kinh, Nhà vua thấy Nghiêm Ích Khiêm là người học rộng tài cao, dòng dõi thế phiệt nên đã ban cho quyền chức: Đạt tín đại phu - Cẩm y vệ Đoán sự ty - Đoán sự - Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ và luôn luôn thường trực tại Điện Kim Quang - nơi Nhà vua làm việc.

Trong khi làm quan, Nghiêm Ích Khiêm luôn đề cao phẩm hạnh: Trung nghĩa đức nhân, giữ trọn thần tiết với vua, với nước, do vậy ông đã được Nhà vua sủng ái, sĩ phu trọng vọng.

Ngày 30/5 năm Kỷ Mùi, đời vua Lê Hiến Tôn, Cảnh Thống năm thứ hai, Nghiêm Ích Khiêm tạ thế, thọ 41 tuổi. Mộ táng tại Xứ Đồng Ngọc - Đại tha ma.

Chính thất phu nhân của ông là người cùng xã, có tên hiệu là Từ Huệ, cũng thuộc dòng thế gia lệnh tộc. Ngày 26/9, bà trở về cõi Phật, mộ tại Đồng Ngọc Xứ - Đại tha ma.

Người con trai duy nhất của Nghiêm Ích Khiêm và bà Từ Huệ là Nghiêm Khải (thụy Hòa Phủ).

Ghi chú:

1. Kể về Nghiêm Ích Khiêm học rộng tài cao, có một tài liệu được đăng trên báo An Ninh Thế Giới đã lâu (khoảng năm 2003) nói về những Danh nhân tài giỏi nhất sinh năm Mão thì trong đó có Tiến sĩ Nghiêm Ích Khiêm, Hoàng Văn Thái... Nhưng không nhớ rõ chi tiết về bài báo. Bạn đọc nào có thông tin về bài báo này (Số, kỳ, năm đăng...), xin vui lòng liên hệ với chúng tôi hoặc để lại lời nhắn. Rất cảm ơn sự quan tâm của bạn đọc !

2. Trên bia đá tại Văn miếu Quốc tử giám (Hà Nội) có khắc danh Đệ nhị giáp Tiến sĩ Nghiêm Ích Khiêm khoa thi Canh Tuất đời Vua Hồng Đức thứ 21 (1490) tuy nhiên bức bia đá này hiện tại không còn và chỉ còn lại danh sách ghi lại khoa thi năm đó và ở văn bia đề danh tiến sĩ tại Văn miếu Bắc Ninh.
    
Hiện tại, bia đá khắc danh Tiến sĩ Nghiêm Phụ (người anh con nhà bác của Cụ Nghiêm Ích Khiêm) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, tại Văn miếu khoa thi Hội Mậu Tuất (1478).

3. Đọc thêm: 

1-10 of 11