Thông tin

Thông tin

  • Giải mã những bí ẩn trong văn bia cổ nhất Việt Nam tại Bắc Ninh Sau một thời gian nghiên cứu, phân tích, những bí ẩn ghi chép trong tấm văn bia cổ được phát hiện tại Bắc Ninh (được xem là cổ nhất Việt ...
    Được đăng 01:50, 7 thg 10, 2012 bởi Đức Nghiêm
  • Văn bia đề danh Tiến sĩ từ khoa Canh Tuất (1490) đến khoa Ất Sửu (1505) Bia số 3 Văn miếu Bắc Ninh: Văn bia đề danh Tiến sĩ từ khoa Canh Tuất (1490) đến khoa Ất Sửu (1505)Ghi chú: Trong văn bia này, có ...
    Được đăng 09:54, 8 thg 10, 2012 bởi Mailbox Phay
  • Văn bia đề danh Tiến sĩ từ khoa Nhâm Thìn (1472) đến khoa Đinh Mùi (1487) Bia số 2 Văn miếu Bắc Ninh: Văn bia đề danh Tiến sĩ từ khoa Nhâm Thìn (1472) đến khoa Đinh Mùi (1487)Ghi chú: Trong văn bia này, có ...
    Được đăng 00:52, 7 thg 10, 2012 bởi Mailbox Phay
  • Người thầy có nhiều học trò thi đỗ đại khoa nhất nước     Có một thầy giáo tuy sách vở rất ít đề cập đến, song sự nghiệp giáo dục của ông lại hết sức vẻ vang, xứng đáng giữ vị trí hàng ...
    Được đăng 00:52, 7 thg 10, 2012 bởi Mailbox Phay
  • Bảng tra từ Từ điển Hán Nôm chức quan Việt Nam phong kiến Trang 1 (từ A - Đ) | trang 2 (từ G - L) | trang 3 (từ M - S) | trang 4 (từ T - Y)TTTÊN CHỨC QUAN 1A bảo阿 保2 ...
    Được đăng 02:36, 12 thg 3, 2014 bởi Đức Nghiêm
  • Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức năm thứ 9 (1478) Bia số 6 Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội: Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức năm thứ 9 (1478)Ghi chú: Trong ...
    Được đăng 00:52, 7 thg 10, 2012 bởi Mailbox Phay
  • Niên hiệu các triều vua Việt Nam NIÊN HIỆU & NIÊN ĐẠI CÁC TRIỀU VUA VIỆT NAM Ghi chú về giai đoạn chưa có niên hiệu khi mới khôi phục độc lập: - 905-930 : Họ Khúc (chưa xưng ...
    Được đăng 00:52, 7 thg 10, 2012 bởi Mailbox Phay
  • Ông Đồ và câu đối Tết Nói đến ngày Tết cổ truyền là nói đến "Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ, Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh". Câu đối đỏ trở thành biểu trưng ...
    Được đăng 00:52, 7 thg 10, 2012 bởi Mailbox Phay
Hiển thị bài đăng 1 - 8trong tổng số 8. Xem nội dung khác »

Giải mã những bí ẩn trong văn bia cổ nhất Việt Nam tại Bắc Ninh

đăng 01:49, 7 thg 10, 2012 bởi Đức Nghiêm   [ đã cập nhật 01:50, 7 thg 10, 2012 ]

Sau một thời gian nghiên cứu, phân tích, những bí ẩn ghi chép trong tấm văn bia cổ được phát hiện tại Bắc Ninh (được xem là cổ nhất Việt Nam) đã được “giải mã”…

Bia cổ là minh văn “Nhân Thọ xá lợi tháp”

Đầu tháng 8/2012, Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh đã phát hiện và sưu tầm được hai cổ vật độc đáo ở chùa Thiền Chúng (Thuyền Chúng), huyện Long Biên, xứ Giao Châu xưa, trong đó có một tấm bia đá có từ năm 601, được đánh giá là cổ nhất Việt Nam. Đặc biệt là những văn tự ghi trên bia thuộc loại “khó hiểu” nên nội dung của văn bia viết gì vẫn là điều bí ẩn.

Tuy nhiên, tại một công trình nghiên cứu trình bày tại Hội nghị thông báo khảo cổ học toàn quốc mới đây, Thạc sĩ Phạm Lê Huy, Giảng viên Khoa Đông Phương học, Đại học KHXH&NV (thuộc ĐHQGHN) cho biết đã giải mã được những bí ẩn ghi trên văn bia.

Tấm văn bia cổ nhất được phát hiện tại Bắc Ninh được xác định là minh văn "Nhân Thọ xá lợi tháp".

Theo Thạc sĩ Phạm Lê Huy, nội dung ghi trong văn bia gồm có tổng cộng 133 chữ, được chia làm 13 dòng. Sau khi giải mã chữ viết, có thể thấy nội dung văn bia trên như sau:

“1. Xá lợi tháp minh văn
2. Duy Đại Tùy Nhân Thọ nguyên niên tuế thứ Tân Dậu thập nguyệt
3. Tân Hợi sóc thập ngũ nhật Ất Sửu
4. Hoàng đế phổ vi nhất thiết pháp giới u hiển sinh linh cẩn
5. ư Giao Châu Long Biên huyện Thiền Chúng tự phụng an xá lợi
6. kính tạo linh pháp nguyện
7. Thái Tổ Vũ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng Hậu, Hoàng đế, Hoàng
8. hậu, Hoàng thái tử, chư vương tử tôn đẳng, tịnh nội ngoại thần
9. quan, viên cập dân thứ, lục đạo, tam đồ nhân, phi nhân đẳng
10. Sinh linh thế thế trị phật văn pháp, vĩnh ly khổ không, đồng
11. thăng diệu quả
12. Sắc tứ Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kỵ úy
13. Khương Huy tống xá lợi ư thử khởi pháp”.

Qua so sánh, có thể nhận thấy văn bia trên có nội dung về cơ bản giống với “Nhân Thọ xá lợi tháp” có niên đại 601 đã được phát hiện tại Trung Quốc.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, văn bia cổ ở Bắc Ninh vẫn có một số điểm khác biệt so với văn bia phát hiện ở Trung Quốc.

Trong văn bia cổ ở Bắc Ninh, dòng đầu tiên ghi chữ “Xá lợi tháp minh”, trong khi đó, một số minh văn phát hiện ở Trung Quốc lại ghi là “Xá lợi tháp hạ minh” hoặc không ghi tiêu đề. Vị trí khắc dòng tiêu đề cũng khác nhau ở từng bia, có cái ghi dòng đầu, có cái ghi dòng cuối.

Ngoài ra, trong khi các minh văn khác chỉ có phần chính văn thì ở văn bia cổ ở Bắc Ninh lại có ghi thêm phần chú thích “sắc sứ” là “Đại đức Tuệ Nhã pháp sư” và “Vũ kỵ úy Khương Huy”. Minh văn Thanh Châu (Trung Quốc), ngoài 2 “sắc sứ” là “Đại đức Trí Năng” và “ Vũ kỵ úy Lý Đức Kham còn ghi thêm tên 2 người tùy tùng (tòng giả) và 2 viên chức Tư mã và Lục sự tham quân của Thanh châu. Đối chiếu với chiếu thư của Tùy Văn Đế, có thể xác định: “Đại đức Tuệ Nhã pháp sư” và “Đại đức Trí Năng” là 2 trong số 30 sa môn được Tùy Văn Đế cử về địa phương, còn Khương Huy và Lý Đức Kham là 2 “tản quan” tháp tùng.

Bên cạnh đó, việc nắp bia và bia được kết dính bằng một chất đặc biệt cũng được phát hiện tại Trung Quốc. Sự thống nhất trong nội dung minh văn với các tấm bia tìm được tại Trung Quốc cũng như sự trùng khớp thông tin (ngày 15 tháng 10 năm 601, xây tháp tại chùa Thiền Chúng ở Giao Châu) với các tư liệu khác như “Quảng hoằng minh tập” và “Cảm ứng lục” có thể khẳng định: Tấm bia vừa được tìm thấy tại Bắc Ninh chính là minh văn “Nhân Thọ xá lợi tháp” được khắc cùng với sự kiện xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng ở Giao Châu năm 601.

Tư liệu lịch sử quý giá

Đánh giá về giá trị và ý nghĩa lịch sử của tấm văn bia cổ vừa được phát hiện và giải mã ở Bắc Ninh, Thạc sĩ Phạm Lê Huy khẳng định: Đây là nguồn tư liệu kim thạch quý giá, bên cạnh bia Trường Xuân và tấm bia phát hiện ở khu vực Vạn Xoan trước đây, đã giúp các nhà nghiên cứu rõ hơn về tình hình chính trị, quan hệ ngoại giao, lịch sử Phật giáo tại Việt Nam giai đoạn thời Tiền Lý. Liên quan đến lịch sử Phật giáo, nó còn giúp chúng ta nhận thức hoàn chỉnh hơn về hoạt động xây dựng tháp xá lợi và các tín ngưỡng xung quanh trong thời Tùy - Đường.

Bia cổ và liễn phát hiện ở Bắc Ninh được đánh giá là nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quý giá.
Không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam, tấm bia cổ Bắc Ninh cũng là nguồn tư liệu quý giá giúp nâng cao hiểu biết của giới học giả Trung Quốc và Nhật Bản về hoạt động xây dựng “Nhân Thọ xá lợi tháp” nói riêng cũng như chính sách Phật giáo của nhà Tùy nói chung. Cụ thể: Nó giúp xác định địa điểm xây dựng tháp xá lợi tại Giao Châu (chùa Thiền Chúng), sứ giả hộ tống (Tuệ Nhã pháo sư, Vũ kỵ úy Khương Huy), tái xác nhận cách thực hiện,…

Ngoài ra, tấm văn bia cổ ở Bắc Ninh cũng là tài liệu bổ sung cho nghiên cứu lịch sử giao thông thời Bắc thuộc. Cụ thể: Chiếu thư của Tùy Đế phát ra vào ngày 16 tháng 3, ước hẹn các địa phương cùng hạ thổ xá lợi vào ngày 15 tháng 10. Như vậy, nhà Tùy đã phải cân nhắc quãng thời gian cần thiết để sứ giả di chuyển từ kinh đo Đại Hưng (Trường An) đến các địa phương. Nói cách khác, quãng thời gian từ 124 ngày (kể từ ngày 16 tháng 3 đến 15 tháng 10) là quãng thời gian tối đa để di chuyển từ Trường An đến Giao Châu.

“Trước đây, qua nghiên cứu về trường hợp của khởi nghĩa Dương Thanh, chúng tôi đã tính toán di chuyển từ Trường An đến Giao Châu (An Nam Đô hộ phủ) mất khoảng 59 - 70 ngày nếu di chuyển bằng đường biển và dịch trạm, khoảng 124 ngày nếu di chuyển với tốc độ thông thường”, thạc sĩ Phạm Lê Huy cho biết.

Văn bia đề danh Tiến sĩ từ khoa Canh Tuất (1490) đến khoa Ất Sửu (1505)

đăng 01:38, 30 thg 9, 2012 bởi Mailbox Phay   [ đã cập nhật 09:54, 8 thg 10, 2012 ]

Bia số 3 Văn miếu Bắc Ninh: Văn bia đề danh Tiến sĩ từ khoa Canh Tuất (1490) đến khoa Ất Sửu (1505)

Ghi chú: Trong văn bia này, có đề danh cụ Nghiêm Ích Khiêm, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ, khoa Mậu Tuất (1490) niên hiệu Hồng Đức năm Canh Tuất 1490 và Đệ nhất trạng nguyên Nghiêm Viện (huyện Quế Võ) niên hiệu Hồng Đức năm Bính Thìn.

Bài liên quan: 

VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ TỪ KHOA CANH TUẤT (1490)
ĐẾN KHOA ẤT SỬU (1505)

黎洪德庚戌科第二甲進士黎俊茂安豐春雷尚書奉使死節追對大王福神阮清勤安豐真護奉使阮德慎東岸莊烈奉使吳達儒金益春熙范肅明安勇古勇阮叔裕東岸芙□阮弘毅東岸莊烈嚴益謙東岸蘭度改掞武聀指揮使第三甲同進士阮宏欸武寧金堆阮敲東岸扶軫承政使奉使杜公瑾安豐先厀申仁信安勇安寧譚慎徵東岸翁墨預騷壇奉使仕至翊運贊治功臣少保起義狥節對福神黃政廉嘉林義齊都御史阮翠瀛東岸蘭亨監察御史。


黎洪德癸丑科第一甲榜眼吳忱東岸三山侍書預騷壇贈太保第二甲進士阮舜鳳眼春盎都給事中阮勇義武寧金堆監察御史杜絪細江頼屋尚書死事贈少保范璡細江頼屋憲察使武達細江永保参政吳敬臣金华春熙阮鴈超類大同尚書第三甲同進士阮廣懋東岸鈇壅承政使阮旌善才給事奉使劉勝殷嘉定湛露杜王+壽嘉林三異侍郎奉使阮雍細江多牛杜綏嘉林午橋監察御史阮綾細江如麟朱塤武寧玉旺預騷壇。


黎洪德丙辰科第一甲狀元嚴瑗桂陽蓬萊榜眼阮勛武寧金堆尚書太保第二甲進士阮清嘉林義齊阮潔秀東岸三山参政第三甲同進士阮道演武寧金堆憲察使范聰善才一斋阮拱順武寧金堆史部侍郎杜鳳康東岸河洧承政使武晋昭武寧緯武参政阮楚倕武寧青山憲察使阮尚嚴安豐曲遂承政奉使阮敬武寧金堆尚書兩奉使。


黎景統己未科弟一甲探花阮克儉安豐平林都御史第二甲進士阮致知細江沒陽侍郎致仕郭文澡嘉定瓊佩承政致仕杜文奫東岸翁墨承政使阮伯俊武寧文奉尚書應義贈少保潭慎簡東岸翁墨尚書第三甲同進士潘碓覽桂陽都壇仕至侍制黎瑄細江青義杜永安安豐斗翰正斷事阮貴雅仙遊大為黎廷王+晋武寧東園安廣憲使。


黎景統壬戌科第二甲進士阮掌新福清水黃仕懌善才來舍参政阮文献超類永世尚書奉使武伯勝安豐蕉山参政第三甲同進士范謙柄桂陽覽山尚書褚天啟東岸檜江史部侍郎黃子儀細江公論阮文憲安勇安勇武宜向仙遊太為阮仲興超類大同刑部侍郎阮春蘭保祿寺邁陶叔院安勇双溪翰林紀銻武伯諠嘉林松油。


黎端慶乙丑科第二甲進士阮肖象超類樂土史部侍郎陶逢泰善才梁舍正斷事阮久升東岸益軺承政使阮文炳嘉林九皐史部侍郎陳磊新福清水郎中第三甲同進士郭琠東岸浮溪侍郎兩奉使吳璪細江舟梁参政杜熀安勇黃麻侍郎阮廷頼超類樂土阮光論嘉定萬斯侍郎黎久執安豐扶安侍郎阮孝思東岸平山國子司業。


Niên hiệu Hồng Đức thời Lê khoa Canh Tuất

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

LÊ TUẤN MẬU 黎俊茂1 người xã Xuân Lôi huyện Yên Phong, làm quan Thượng thư, đi sứ, tử tiết, truy phong Đại vương phúc thần.

NGUYỄN THANH CẦN 阮清勤2 người xã Chân Hộ huyện Yên Phong, đi sứ.

NGUYỄN ĐỨC THẬN 阮德慎3 người xã Trang Liệt huyện Đông Ngàn, đi sứ.

NGÔ ĐẠT NHO 吳達儒4 người xã Xuân Hy huyện Kim Hoa.

PHẠM TÚC MINH 笵肅明5 người xã Cổ Dũng huyện Yên Dũng.

NGUYỄN THÚC DỤ 阮叔裕6 người xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn.

NGUYỄN HOẰNG NGHỊ 阮弘毅7 người Trang Liệt huyện Đông Ngàn.

NGHIÊM ÍCH KHIÊM 嚴益謙8 người xã Quan Độ huyện Đông Ngàn, sau chuyển ngạch võ làm Chỉ huy sứ.

Đệ tam giáp Tiến sĩ:

NGUYỄN HOẰNG KHOẢN 阮宏款9người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh.

NGUYỄN XAO 阮敲10người xã Phù Chẩn huyện Đông Ngàn, làm Thừa chính sứ, đi sứ.

ĐỖ CÔNG CẨN 杜公瑾11người xã Tiên Hộ huyện Yên Phong.

THÂN NHÂN TÍN 申仁信12 người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng.

ĐÀM THẬN HUY 譚慎徽13 người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn, thành viên Hội Tao đàn, đi sứ, làm quan đến Dực vận Tán trị công thần, Thiếu bảo, khởi nghĩa, tuẫn tiết, sau được phong phúc thần.

HOÀNG CHÍNH LIÊM 黃政廉14 người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm, làm Đô Ngự sử.

NGUYỄN THÚY DOANH 阮翠瀛15 người xã Quan Đình huyện Đông Ngàn, làm Giám sát Ngự sử.

Niên hiệu Hồng Đức thời Lê khoa Quý Sửu

Đệ nhất giáp Bảng nhãn NGÔ THẦM 吳忱16 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn, làm quan Thị thư, thành viên Hội Tao đàn, tặng Thái bảo.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

NGUYỄN THUẤN 阮舜17 người xã Xuân Áng huyện Phượng Nhỡn, làm quan Đô Cấp sự trung.

NGUYỄN DŨNG NGHĨA 阮勇義18 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, làm Giám sát Ngự sử.

ĐỖ NHÂN 杜絪19 người xã Lại Ốc huyện Tế Giang, làm quan Thượng thư, chết khi đang làm việc, tặng Thiếu bảo.

PHẠM TIẾN 笵璡20 người xã Lại Ốc huyện Tế Giang, làm Hiến sát sứ.

VŨ ĐẠT 武達21 người xã Vĩnh Bảo huyện Tế Giang, làm Tham chính.

NGÔ KÍNH THẦN 吳敬臣22 người xã Xuân Hy huyện Kim Hoa.

NGUYỄN ƯNG 阮鷹23 người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại, làm quan Thượng thư.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

NGUYỄN QUẢNG MẬU 阮廣懋24, nguời xã Thiết Úng huyện Đông Ngàn, làm quan Thừa chính sứ.

NGUYỄN TINH 阮旌25 người huyện Thiện Tài, làm Cấp sự, đi sứ.

LƯU THẮNG ÂN 劉勝殷26 người xã Trạm Lộ huyện Gia Định.

ĐỖ THỌ 杜壽27 người xã Tam Dị huyện Gia Lâm, làm Thị lang, đi sứ.

NGUYỄN UNG 阮雍28 người xã Đa Ngưu huyện Tế Giang.

ĐỖ TUY杜綏29 người xã Ngọ Kiều huyện Gia Lâm, làm Giám sát Ngự sử.

NGUYỄN LĂNG 阮綾30 người xã Như Lân huyện Tế Giang.

CHU HUÂN 朱塤31 người xã Ngọc Đôi huyện Vũ Ninh, thành viên Hội Tao đàn.

Niên hiệu Hồng Đức thời Lê khoa Bính Thìn

Đệ nhất giáp Trạng nguyên NGHIÊM VIỆN 嚴瑗32 người xã Bồng Lai huyện Quế Dương.

Bảng nhãn NGUYỄN HUÂN 阮勛33 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, làm Thượng thư, Thái bảo.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

NGUYỄN THANH 阮清34 người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm.

NGUYỄN KHIẾT TÚ 阮潔秀35 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn, làm Tham chính.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

NGUYỄN ĐẠO DIỄN 阮道演36 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, làm Hiến sát sứ.

PHẠM THÔNG 笵聰37 người xã Nhất Trai huyện Thiện Tài.

NGUYỄN CỦNG THUẬN 阮拱順38 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, làm quan Thị lang Bộ Lại.

ĐỖ TÚC KHANG 杜夙康39 người xã Hà Vĩ huyện Đông Ngàn, làm Thừa chính sứ.

VŨ TẤN CHIÊU 武晉昭40 người xã Vĩ Vũ huyện Vũ Ninh, làm Tham chính.

NGUYỄN SỞ THÙY 阮楚倕41 người xã Thanh Sơn huyện Vũ Ninh, làm Hiến sát sứ.

NGUYỄN THƯỢNG NGHIÊM 阮尚嚴42 người xã Khúc Toại huyện Yên Phong, làm Thừa chính, đi sứ.

NGUYỄN KÍNH 阮敬43 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, làm Thượng thư, hai lần đi sứ.

Niên hiệu Cảnh Thống thời Lê khoa Kỷ Mùi

Đệ nhất giáp Thám hoa NGUYỄN KHẮC KIỆM 阮克儉44 người xã Bình Lâm huyện Yên Phong, làm Đô Ngự sử.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

NGUYỄN TRÍ TRI 阮致知45 người xã Ngải Dương huyện Tế Giang, làm Thị lang, về trí sĩ.

QUÁCH VĂN TẢO 郭文藻46 người xã Quỳnh Bội huyện Gia Định, làm Thừa chính.

ĐỖ ĐẠI UÂN 杜大奫47 người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn, làm Thừa chính sứ.

NGUYỄN BÁ TUẤN 阮伯俊48 người Văn Phong huyện Vũ Ninh, làm Thượng thư, làm nhiều việc nghĩa, khi mất tặng Thiếu bảo.

ĐÀM THẬN GIẢN 譚慎簡49 người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn, làm Thượng thư.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

PHAN HÙNG LÃM 潘雄覽50 người xã Đô Đàn huyện Quế Dương, làm quan đến chức Thị chế.

LÊ TUYÊN 黎瑄51 người xã Thanh Nga huyện Tế Giang.

ĐỖ VĨNH AN 杜永安52người xã Đẩu Hàn huyện Yên Phong, làm Chánh Tân sự.

NGUYỄN QUÝ NHÃ 阮貴雅53 người xã Đại Vi huyện Tiên Du.

LÊ ĐÌNH TẤN 黎廷晉54 người xã Đông Viên huyện Vũ Ninh, làm An Quảng Hiến sứ.

Niên hiệu Cảnh Thống thời Lê khoa Nhâm Tuất

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

NGUYỄN CHƯỞNG 阮掌55 người xã Thanh Thủy huyện Tân Phúc.

HOÀNG SĨ DỊCH 黃仕懌56 người xã Lai Xá huyện Thiện Tài, làm Tham chính.

NGUYỄN VĂN HIẾN 阮文獻57 người xã Vĩnh Thế huyện Siêu Loại, làm Thượng thư, đi sứ.

VŨ BÁ THẮNG 武伯勝58 người xã Tiêu Sơn huyện Yên Phong, làm Tham chính.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

PHẠM KHIÊM BÍNH 笵謙柄59 người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương, làm Thượng thư.

CHỬ THIÊN KHẢI 褚天啟60 người xã Cối Giang huyện Đông Ngàn, làm quan Thị lang Bộ Lại.

HOÀNG TỬ NGHI 黃子儀61 người xã Công Luận huyện Tế Giang.

NGUYỄN VĂN HIẾN 阮文憲62 người xã Yên Dũng, huyện Yên Dũng.

VÕ NGHI HƯỚNG 武宜向63 người xã Thái Vi huyện Tiên Du.

NGUYỄN TRỌNG HƯNG 阮仲興64 người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại, làm quan Thị lang Bộ Hình.

NGUYỄN XUÂN LAN 阮春蘭65, người xã Tự Mại huyện Bảo Lộc.

ĐÀO THÚC VIỆN 陶叔院66 người xã Song Khê huyện Yên Dũng, làm Hàn lâm Ký lục.

VŨ BÁ HUYÊN 武伯諠67 người xã Tùng Du huyện Gia Lâm.

Niên hiệu Đoan Khánh thời Lê khoa Ất Sửu

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

NGUYỄN TIẾU TƯỢNG 阮肖象68 người xã Lạc Thổ huyện Siêu Loại, Thị lang Bộ Lại.

ĐÀO PHÙNG THÁI 陶逢泰69 người xã Lương Xá huyện Thiện Tài, làm Chính Đoạn sự.

NGUYỄN DOÃN THĂNG 阮允升70 người xã Hoa Thiều huyện Đông Ngàn, làm Thừa chính sứ.

TRẦN VĂN BÍNH 陳文炳71 người xã Cửu Cao huyện Gia Lâm, làm Thị lang Bộ Lại.

TRẦN LỖI 陳磊72 người xã Thanh Thủy huyện Tân Phúc, làm Lang trung.


Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

QUÁCH ĐIỂN 郭琠73 người xã Phù Khê huyện Đông Ngàn, làm quan Thị lang, hai lần đi sứ.

NGÔ TẢO 吳璪74 người xã Đan Nhiệm huyện Tế Giang, làm Tham chính.

ĐỖ HOẢNG 杜熀75 người xã Hoàng Ma huyện Yên Dũng, làm quan Thị lang.

NGUYỄN ĐÌNH LẠI 阮廷賴76 người xã Lạc Thổ huyện Siêu Loại.

NGUYỄN QUANG LUẬN 阮光論77 người xã Vạn Tư huyện Gia Định, làm quan Thị lang.

LÊ DOÃN CHẤP 黎允執78 người xó Phự Yờn huyện Yờn Phong, làm Thị lang.

NGUYỄN HIẾU TƯ 阮孝思79 người xã Bình Sơn huyện Đông Ngàn, làm Tư nghiệp Quốc tử giám.

Chú thích:

1. Lê Tuấn Mậu (?-?) người xã Xuân Lôi huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân đệ nhất danh, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Thời Lê, ông làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hộ kiêm Đô Ngự sử và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi, buộc ông phải vào chầu, ông bèn giấu cục đá vào tay áo rồi ném Mạc Đăng Dung, nhưng không trúng. Ông bị giết. Thời Lê Trung hưng, ông được phong phúc thần.

2. Nguyễn Thanh Cần (1463-?) người xã Chân Hộ huyện Yên Phong (nay thuộc xã Dũng Liệt huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21(1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ và từng đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

3. Nguyễn Đức Thận (1463-?) người xã Trang Liệt huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Quang huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thượng thư và từng đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

4. Ngô Đạt Nho (?-?) người xã Xuân Hy huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Phúc Thắng huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21(1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Tham chính.

5. Phạm Túc Minh (1461-?) người Cổ Dũng huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Tiến Dũng huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Đô Cấp sự trung.

6. Nguyễn Thúc Dụ (1454-?) người xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Đô Cấp sự trung.

7. Nguyễn Hoằng Nghị (?-?) người xã Trang Liệt huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Quang huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Tư nghiệp Quốc tử giám.

8. Nghiêm Ích Khiêm (1459-?) người xã Quan Độ huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Văn Môn huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, năm Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21(1490) đời vua Lê Thánh Tông. Sau ông chuyển sang ngạch quan võ, làm chức Cẩm y vệ Phó đô Chỉ huy sứ (có sách chép là Đô chỉ huy sứ). Ông là em của Nghiêm Công Phụ, có sách ghi ông là Nguyễn Đăng Khiêm.

9. Nguyễn Hoằng Khoản (1471-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

10. Nguyễn Xao (1465-?) người xã Phù Chẩn huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Phù Chẩn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.

11. Đỗ Công Cẩn (1468-?) người xã Tiên Hộ huyện Tiên Phong (nay thuộc xã Tiên Phong huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ.

12. Thân Nhân Tín (1439-?) người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Hoàng Ninh huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông là con trưởng của Thân Nhân Trung, anh của Nhân Vũ, cha của Cảnh Vân. Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

13. Đàm Thận Huy (1463-1526) hiệu là Mặc Trai 默 齋 người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Lễ, Tri Chiêu văn quán, Tú lâm cục kiêm Hàn lâm viện Thị độc, Chưởng Hàn lâm viện sự, Thiếu bảo, Nhập thị Kinh diên, tước Lâm Xuyên bá. Khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi, ông về Bắc Giang chiêu mộ nghĩa binh khởi nghĩa, không địch nổi, ông bèn tự tử. Thời Lê Trung hưng, ông được xếp vào hàng Kiệt tiết Dực vận Tán trị công thần và phong là phúc thần.

14. Hoàng Chính Liêm (?-?) người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Tân Quang huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Lại.

15. Nguyễn Thúy Doanh (?-?) người xã Quan Đình huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Văn Môn huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Giám sát Ngự sử.

16. Ngô Thầm (?-?) tự là Hòe Hiên 槐 軒 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp đồng Tiến sĩ cập đệ nhị danh, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 21. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị thư và là thành viên Hội Tao đàn. Sau khi mất, ông được tặng Thái bảo.

17. Nguyễn Thuấn (?-?) người xã Xuân Áng huyện Phượng Nhãn (nay thuộc xã Quỳnh Sơn huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang), trước khi đi thi, ông làm quan Huấn đạo, rồi thi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Đô khoa Cấp sự trung.

18. Nguyễn Dũng Nghĩa (?-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), trước khi đi thi, ông đã từng làm Tri huyện, rồi thi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Giám sát Ngự sử.

19. Đỗ Nhân (1466-1518) tự Đôn Chính 敦 政 và hiệu Nghĩa Sơn 義 山 người xã Lại Ốc huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Hộ kiêm Đô Ngự sử, Đông các Đại học sĩ, Nhập thị Kinh diên, ông đổi tên là Đỗ Nhạc 杜岳 và được cử đi sứ. Ông bị Mạc Đăng Dung sai Đinh Mông chém chết. Sau thời Lê Trung hưng ông được tặng Thiếu bảo, tước Văn Trinh bá.

20. Phạm Tiến (1446-?) người xã Lại Ốc huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến Hàn lâm Thừa chỉ.

21. Vũ Đạt (?-?) người xã Vĩnh Bảo huyện Tế Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến Đô Ngự sử.

22. Ngô Kính Thần (?-?) người xã Xuân Hy huyện Kim Hoa (nay thuộc huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đếnPhó Đô Ngự sử, tước tử.

23. Nguyễn Ưng (?-?) người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Đại Đồng Thành huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thượng thư.

24. Nguyễn Quảng Mậu (1470-?) người xã Thiết Ứng huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Vân Hà huyện Đông Anh Tp. Hà Nội), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.

25. Nguyễn Tinh (?-?) người xã Văn Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Phú Hòa huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Trước khi đi thi, ông đã làm Huấn đạo, sau làm quan đến chức Lại khoa Đô Giám khảo thư đẳng, Cấp sự trung và được cử đi sứ.

26. Lưu Thắng Ân (?-?) người xã Trạm Lộ huyện Gia Định (nay thuộc xã Trạm Lộ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Đô Cấp sự trung. Ông là cháu Lưu Thúc Kiệm.

27. Đỗ Thọ (?-?) người xã Tam Dị huyện Gia Lâm (nay là thôn Tam Dị, xã Trưng Trắc huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Yên Bần (nay là thị trấn Bần Yên Nhân huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thị lang và được cử làm Chánh sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

28. Nguyễn Ưng (1468-?) người xã Đa Ngưu huyện Tế Giang (nay thuộc xã Tân Tiến huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông là một trong số nhiều người mưu lập nhà Mạc và làm quan đến chức Thượng thư, Thiếu bảo, Thông Quận công. Sau khi mất, ông được tặng Quốc công. Có sách chép ông là Nguyễn Thời Ưng.

29. Đỗ Tuy (1456-?) người xã Ngọ Kiều huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Giám sát Ngự sử.

30. Nguyễn Lăng (1452-?) người xã Như Lân huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

31. Chu Huân (?-?) người xã Ngọc Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ và là thành viên của Hội Tao đàn. Có sách chép ông là Như Huyên.

32. Nghiêm Viện: Xem chú thích 3, Bia số 9.

33. Nguyễn Huân: Xem chú thích 4, Bia số 9.

34. Nguyễn Thanh: Xem chú thích 7, Bia số 9.

35. Nguyễn Khiết Tú: Xem chú thích 13, Bia số 9.

36. Nguyễn Đạo Diễn: Xem chú thích 14, Bia số 9.

37. Phạm Thông: Xem chú thích 16, Bia số 9.

38. Nguyễn Củng Thuận: Xem chú thích 18, Bia số 9.

39. Đỗ Túc Khang: Xem chú thích 24, Bia số 9.

40. Vũ Tấn Chiêu: Xem chú thích 26, Bia số 9.

41. Nguyễn Sở Thùy: Xem chú thích 28, Bia số 9.

42. Nguyễn Thượng Nghiêm: Xem chú thích 27, Bia số 9.

43. Nguyễn Kính: Xem chú thích 32, Bia số 9.

44. Nguyễn Khắc Kiệm (1460-?) người xã Bình Lâm huyện Yên Phong (nay thuộc xã Thụy Lâm huyện Đông Anh Tp. Hà Nội), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa), khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2. (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Đô Ngự sử.

45. Nguyễn Trí Tri (?-?) người xã Ngải Dương huyện Tế Giang (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2. (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Hữu Thị lang Bộ Lễ. Sau về trí sĩ, hưởng thọ 92. tuổi.

46. Quách Văn Tảo (1466- 1545) người xã Đoan Bái huyện Gia Định (nay thuộc xã Đại Bái huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2. (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ. Có tài liệu chép là ông Quách Đình Tảo.

47. Đỗ Đại Uân (1452-1520) người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2. (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ. Có tài liệu chép ông là Đỗ Uân.

48. Nguyễn Bá Tuấn (?-?) người xã Hậu Chính huyện Vũ Ninh (nay thuộc huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), xuất thân từ Giám sinh, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2. (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Thượng thư, tước Do Lễ bá. Sau khi mất, ông được tặng Thiếu bảo. Sau này ông đổi tên là Nguyễn Bá Thuyên.

49. Đàm Thận Giản (1466-?) người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2. (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Hộ. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thượng thư Bộ Công.

50. Nguyễn Hùng Lãm (?-?) người huyện Quế Dương (nay là huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), xuất thân Giám sinh, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2. (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.

51. Lê Tuyên (?-?) người xã Thanh Nga huyện Tế Giang (nay thuộc xã Đồng Than huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Thống thứ 2. (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Đoán sự.

52. Đỗ Vĩnh An (?-?) người xã Đấu Hàn huyện Yên Phong (nay thuộc xã Hòa Long huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2. (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan Hình Thiêm sự, Đoán sự. Có tài liệu chép ông là Đỗ An Vĩnh.

53. Nguyễn Quý Nhã (1466-?) người xã Đại Vi huyện Tiên Du (nay thuộc xã Đại Đồng huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), xuất thân từ Thư ngoại lang, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2. (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Khoa này ông thi Hội trúng cách nhưng khi vào Điện thí, ông làm bài ứng chế lạc vận nên bị đánh hỏng và bổ làm Tri huyện Phụ Dực (nay thuộc huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình). Năm 1506, ông được gọi về triều, bổ làm chức Đề hình Giám sát Ngự sử và được cử đi sứ (năm 1516) sang nhà Minh (Trung Quốc). Khi trở về nước, Đoàn sứ bộ bị buộc phải giao nộp các tặng vật của triều đình nhà Minh tặng. Khi vua Lê Chiêu Tông lên ngôi, Chánh sứ Đoàn sứ bộ là Nguyễn Trọng Quỳ bị xử trảm, còn ông được tha. Sau ông theo nhà Mạc, làm Thượng thư Bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập thị Kinh diên.

54. Lê Đình Tấn (?-?) người xã Vĩ Vũ huyện Vũ Ninh (nay thuộc thị xã Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2. (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Phó Đô Ngự sử.

55. Nguyễn Chưởng: Xem chú thích 22, Bia số 10.

56. Hoàng Sĩ Dịch: Xem chú thích 23, Bia số 10.

57. Nguyễn Văn Hiến: Xem chú thích 24, Bia số 10.

58. Vũ Bá Thắng: Xem chú thích 25, Bia số 10.

59. Phạm Khiêm Bính: Xem chú thích 31, Bia số 10.

60. Chử Thiên Khải: Xem chú thích 37, Bia số 10.

61. Hoàng Tử Nghi: Xem chú thích 40, Bia số 10.

62. Nguyễn Văn Hiến: Xem chú thích 41, Bia số 10.

63. V ũ Nghi Hướng: Xem chú thích 45, Bia số 10.

64. Nguyễn Trọng Hưng: Xem chú thích 49, Bia số 10.

65. Nguyễn Xuân Lan: Xem chú thích 54, Bia số 10.

66. Đào Thúc Viện: Xem chú thích 59, Bia số 10.

67. Vũ Bá Huyên: Xem chú thích 61, Bia số 10.

68. Nguyễn Tiếu Tượng (?-?) người xã Lạc Thổ huyện Siêu Loại (nay thuộc thị trấn Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1. (1505) đời vua Lê Uy Mục. Sau đó ông làm quan với nhà Mạc, đến chức Tả Thị lang Bộ Lại, Nhập thị Kinh diên.

69. Đào Phùng Thái (1480-?) người xã Lương Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1. (1505) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Chính Đoán sự.

70. Nguyễn Doãn Thăng (1483-?) người xã Hoa Thiều huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1. (1505) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.

71. Trần Văn Bính (?-?) người xã Cửu Cao huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cửu Cao huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), trú quán ở xã Thượng Tốn (nay thuộc xã Đa Tốn huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1. (1505) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Lễ.

72. Trần Lỗi (?-?) người xã Thanh Thủy huyện Tân Phúc (nay thuộc huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1. (1505) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Hữu Thị lang.

73. Quách Điển (1483-1534) người xã Phù Khê huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Phù Khê huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1. (1505) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hình, Thượng thư Bộ Hình và 2. lần được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Ông bị mất trên đường đi sứ lần thứ 2, hưởng thọ 52. tuổi. Nhiều tài liệu chép ông là Quách Khiết.

74. Ngô Tảo (1474-?) người xã Đan Nhiệm huyện Tế Giang (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1. (1505) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Tham chính.

75. Đỗ Hoảng (1483-?) người xã Hoàng Mai huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Hoàng Ninh huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1. (1505) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ, Hữu Thị lang. Có tài liệu chép ông là Đỗ Miễn.

76. Nguyễn Đình Lại (?-?) thủa nhỏ ông tên là Lãn, sau khi thi đỗ Tiến sĩ được vua cho đổi tên là Lại người xã Lạc Thổ huyện Siêu Loại (nay thuộc thị trấn Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Hội nguyên, Điện thí đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1. (1505) đời vua Lê Uy Mục. Ông là em Nguyễn Tiếu Tượng, sự nghiệp hiện chưa rõ.

77. Nguyễn Quang Luận người xã Vạn Ty huyện Gia Định (nay thuộc xã Thái Bảo huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1. (1505) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Công, Hữu Thị lang Bộ Binh. Sau làm quan với nhà Mạc và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng hàm Thượng thư.

78. Lê Doãn Chấp (?-?) người xã Phù Yên huyện Yên Phong (nay thuộc xã Dũng Liệt huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1. (1505) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Binh. Có tài liệu chép ông là Nguyễn Doãn Chấp.

79. Nguyễn Hiếu Tư (1459-?) người xã Bình Sơn huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1. (1505) đời vua Lê Uy Mục. Trước khi đi thi, ông làm Chủ sự, sau làm quan đến chức Quốc tử giám Tư nghiệp.

Theo Hannom.org.vn

Văn bia đề danh Tiến sĩ từ khoa Nhâm Thìn (1472) đến khoa Đinh Mùi (1487)

đăng 21:56, 29 thg 8, 2012 bởi Đức Nghiêm   [ cập nhật 00:52, 7 thg 10, 2012 bởi Mailbox Phay ]

Bia số 2 Văn miếu Bắc Ninh: Văn bia đề danh Tiến sĩ từ khoa Nhâm Thìn (1472) đến khoa Đinh Mùi (1487)

Ghi chú: Trong văn bia này, có đề danh cụ Nghiêm Phụ, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Tuất (1478) niên hiệu Hồng Đức năm thứ 9. 

Bài liên quan: 


VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ TỪ KHOA NHÂM THÌN (1472) ĐẾN
 KHOA ĐINH MÙI (1487) 

黎洪德壬辰科第一甲狀元武傑超類安越侍郎兼東閣工部坊探花王克述東岸檜江奉使仕至参政第二甲進士阮進良善才第三甲同進士褚豐東岸檜江奉使仕至御史阮敬修東岸東出仕至翰林阮仁餘武寧金堆仕至憲察吳瑍嘉林鄧舍東閣大學士黎俊彦細江永祿會元奉使仕至尚書。

黎洪德乙未科第二甲進士陳深善才珥齊阮瑤僊遊內裔國子司業第三甲同進士阮幼勉桂陽覽陽仕至尚書阮驛武寧金堆翰林校討阮靖金花扶魯都給事中潘貴超類潘舍参政奉使薺順超類柳林参政號呂塘先生阮禮敬安勇安寧謝德海武寧阮陽憲金花扶魯仕至侍郎吳綸東岸三山再中東閣仕至尚書東閣大學士預騷壇二十八宿。

黎洪德戊戌科第二甲進士阮士原東岸翁墨尚寶寺卿黃德良嘉林午救捄侍郎奉使吳楚玉善才文舍阮僩嘉定東瑰仕至侍郎第三甲同進士阮瓛東岸東出侍郎郭瓚東岸浮潭翰林奉使阮麒細江如麟侍郎奉使嚴輔東岸關度仕至参政阮儼東岸平山参政楊易東岸河魯参政梁榮嘉林古碑費敏嘉林九皐范勉麟善才花捄廷尉奉使陶進康嘉林春杜仕至参政阮鼎弼金花浮溪阮簡廉東岸翁墨給事黎亨鉉嘉林義齊吳貞執安豐瑞雷陶霖善才當潮仕至翰林鄧珙桂陽雲閣翰林校討。

黎洪德辛丑科第二甲進士吳文景安勇安寧仕至憲察第三甲同進士阮明通東岸春耕参政阮孫蔑金花春熙翰林侍書預騷壇二十八宿申宗武安勇安寧阮必聰武寧金堆阮廷俊善才廣布奉使仕至尚書劉貽厥細江如鳳仕至憲察黎錫細江曲弄湯義方東岸錦章仕至侍郎黎德忠安勇古勇仕至尚書阮轟嘉林義齊都御史。

黎洪德甲辰科第一甲狀元阮光弼嘉定平吳仕至都御史與覃尚書同受顧命死節至□翼帝並追對以旌忠第二甲進士陶如珪桂陽知工謝才金花林户范智謙善才安莊會元東閣校書阮久修東岸花軺仕至刑科都給事中第三甲同進士宋福林善才一齊翰林承旨奉使黎汝聰新福阮无咎僊遊內裔。

黎洪德丁未科弟一甲探花申景雲安勇安□第二甲進士阮謹廉超類大同仕至侍郎吳鈺安豐望月都給事中第三甲同進士阮郁東岸三山侍郎阮耀輝善才費舍副都御史阮亨敷僊遊內裔侍郎范盛嘉定三椏兩奉使尚書死事阮慎禮金花扶寧。


Niên hiệu Hồng Đức thời Lê khoa Nhâm Thìn

Đệ nhất giáp Trạng nguyên VŨ KIỆT 武傑1 người xã Yên Việt huyện Siêu Loại, làm quan Thị lang kiêm Đông các, Bộ Công.

Thám hoa VƯƠNG KHẮC THUẬT 王克述2 người xã Cối Giang huyện Đông Ngàn, đi sứ, làm quan đến Tham chính.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ NGUYỄN TIẾN LƯƠNG 阮進良3 người huyện Thiện Tài.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

CHỬ PHONG 褚豐4 người xã Cối Giang huyện Đông Ngàn, đi sứ, làm quan đến chức Ngự sử.

NGUYỄN KÍNH TU 阮敬修5 người xã Đông Xuất huyện Đông Ngàn, làm quan đến Hàn lâm.

NGUYỄN NHÂN DƯ 阮仁餘6 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, làm quan đến chức Hiến sát.

NGÔ ANH 吳瑛7 người xã Đặng Xá huyện Gia Lâm, làm quan đến Đông các Đại học sĩ.

LÊ TUẤN NGẠN 黎俊彥8 người xã Vĩnh Lộc huyện Tế Giang, Hội nguyên, đi sứ, làm quan đến Thượng thư.

Niên hiệu Hồng Đức thời Lê khoa Ất Mùi

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

TRẦN THÂM 陳深9 người xã Nhị Trai huyện Thiện Tài.

NGUYỄN DAO 阮瑤10 người xã Nội Duệ huyện Tiên Du, làm Quốc tử giám Tư nghiệp.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

NGUYỄN ẤU MIỄN 阮幼勉11 người xã Lãm Dương huyện Quế Dương, làm quan đến chức Thượng thư.

NGUYỄN DỊCH 阮驛12 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, làm Hàn lâm Hiệu thảo.

NGUYỄN TĨNH 阮靖13 người xã Phù Lỗ huyện Kim Hoa, làm Đô Cấp sự trung.

PHAN QUÝ 潘貴14 người xã Phan Xá huyện Siêu Loại, làm Tham chính, đi sứ.

THÁI THUẬN 蔡順15 người xã Liễu Lâm huyện Siêu Loại, làm Tham chính, hiệu Lã Đường tiên sinh 呂瑭仙生.

NGUYỄN LỄ KÍNH 阮禮敬16 người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng.

TẠ ĐỨC HẢI 謝德海17 người huyện Vũ Ninh.

NGUYỄN DƯƠNG HIẾN 阮陽憲18 người xã Phù Lỗ huyện Kim Hoa, làm quan đến Thị lang.

NGÔ LUÂN 吳綸19 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn, tái trúng Đông các, làm quan đến Thượng thư, Đông các Đại học sĩ, là thành viên Hội Tao đàn nhị thập bát tú.

Niên hiệu Hồng Đức thời Lê khoa Mậu Tuất

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

NGUYỄN SĨ NGUYÊN 阮士原20 người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn, làm Thượng bảo Tự khanh.

HOÀNG ĐỨC LƯƠNG 黃德良21 người xã Ngọ Kiều huyện Gia Lâm, làm quan Thị lang, đi sứ.

NGÔ SỞ NGỌC 吳楚玉22 người xã Văn Xá huyện Thiện Tài.

NGUYỄN GIẢN 阮僩23 người xã Đông Khối huyện Gia Định, làm quan đến chức Thị lang.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

NGUYỄN HIẾN 阮瓛24 người xã Đông Xuất huyện Đông Ngàn, làm quan Thị lang.

QUÁCH TOẢN 郭瓚25 người xã Phù Đàm huyện Đông Ngàn, làm Hàn lâm, đi sứ.

NGUYỄN KỲ 阮麒26 người xã Như Lân huyện Tế Giang, làm quan Thị lang, đi sứ.

NGHIÊM PHỤ 嚴輔27 người xã Quan Độ huyện Đông Ngàn, làm quan đến Tham chính.

NGUYỄN NGHIỄM 阮儼28 người xã Bình Sơn huyện Đông Ngàn, làm quan Tham chính.

DƯƠNG BÍNH 陽昺29 người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn, làm quan Tham chính.

LƯƠNG VINH 梁榮30 người xã Cổ Bi huyện Gia Lâm.

PHÍ MẪN 費敏31 người xã Cửu Cao huyện Gia Lâm.

PHẠM MIỄN LÂN 笵勉麟32 người xã Hoa Cầu huyện Thiện Tài, 
đi sứ.

ĐÀO TIẾN KHANG 陶進康33 người xã Xuân Đỗ huyện Gia Lâm, làm quan đến Tham chính.

NGUYỄN ĐỈNH BẬT 阮鼎弼34 người xã Cán Khê huyện Kim Hoa.

NGUYỄN GIẢN LIÊM 阮簡廉35 người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn, làm Cấp sự.

LÊ HANH HUYỄN 黎亨鉉36 người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm.

NGÔ TRINH CHẤP 吳貞執37 người xã Thụy Lôi huyện Yên Phong.

ĐÀO LÂM 陶霖38 người xã Đương Triều huyện Thiện Tài, làm quan đến Hàn lâm.

ĐẶNG CUNG 鄧珙39 người xã Vân Đoàn huyện Quế Dương, làm Hàn lâm Hiệu thảo.

Niên hiệu Hồng Đức thời Lê khoa Tân Sửu

Đệ nhị giáp Tiến sĩ 

NGÔ VĂN CẢNH 吳文景40 người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng, làm quan đến Hiến sát.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

NGUYỄN MINH THÔNG 阮明通41 người xã Xuân Canh huyện Đông Ngàn, làm Tham chính.

NGUYỄN TÔN MẬU 阮孫茂42 người xã Xuân Hy huyện Kim Hoa, làm Hàn lâm Thị thư, thành viên Hội Tao đàn nhị thập bát tú.

THÂN TÔNG VŨ 申宗武43 người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng.

NGUYỄN TẤT THÔNG 阮必聰44 người xã Vũ Ninh Kim Đôi.

NGUYỄN ĐÌNH TUẤN 阮廷俊45 người xã Quảng Bố huyện Thiện Tài, đi sứ, làm quan đến chức Thượng thư.

LƯU DI QUYẾT 劉貽厥46 người xã Như Phượng huyện Tế Giang, làm quan đến Hiến sát.

LÊ TỨ 黎賜47 người xã Khúc Lộng huyện Tế Giang.

DƯƠNG NGHĨA PHƯƠNG 陽義方48 người xã Cẩm Chương huyện Đông Ngàn, làm quan đến chức Thị lang.

LÊ ĐỨC TRUNG 黎德忠49 người xã Cổ Dũng huyện Yên Dũng, làm quan đến chức Thượng thư.

NGUYỄN OANH 阮轟50 người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm, làm Đô Ngự sử.

Niên hiệu Hồng Đức thời Lê khoa Giáp Thìn

Đệ nhất giáp Trạng nguyên NGUYỄN QUANG BẬT 阮光弼51 người xã Bình Ngô huyện Gia Định, làm quan đến Đô Ngự sử. Cùng với Đàm Thượng thư nhận cố mệnh, tử tiết. Đến đời Tương Dực đế được truy phong để nêu gương người trung nghĩa.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

ĐÀO NHƯ KHUÊ 陶如珪52 người xã Tri Nhị huyện Quế Dương.

TẠ TÀI 謝才53 người xã Tùng Hộ huyện Kim Hoa.

PHẠM TRÍ KHIÊM 笵智謙54 người xã An Tráng huyện Thiện Tài, Hội nguyên, làm Đông các Hiệu thư.

NGUYỄN DOÃN TU 阮允修55 người xã Hoa Thiều huyện Đông Ngàn, làm quan đến chức Hình khoa Đô Cấp sự trung.

Đệ tam giáp Tiến sĩ:

TỐNG PHÚC LÂM 宋福林56 người xã Nhất Trai huyện Thiện Tài, làm Hàn lâm Thừa chỉ, đi sứ.

LÊ NHỮ THÔNG 黎汝聰57 người huyện Tân Phúc.

NGUYỄN NGUYÊN CỮU 阮元咎58 người xã Nội Duệ huyện Tiên Du.

Niên hiệu Hồng Đức thời Lê khoa Đinh Mùi

Đệ nhất giáp THÂN CẢNH VÂN 申景雲59 người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

NGUYỄN CẨN LIÊM  阮謹廉60 người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại, làm quan đến Thị lang.

NGÔ NGỌC 吳鈺61 người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong, làm Đô Cấp sự trung.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

NGUYỄN ÚC 阮郁62 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn, làm quan Thị lang.

NGUYỄN DIỆU HUY 阮耀輝63 người xã Phí Xá huyện Thiện Tài, làm Phó Đô Ngự sử.

NGUYỄN HANH PHU 阮亨敷64 người xã Nội Duệ huyện Tiên Du, làm quan Thị lang.

PHẠM THỊNH 笵盛65 người xã Tam Á huyện Gia Định, làm quan Thượng thư, hai lần đi sứ, tử tiết.

NGUYỄN THẬN LỄ 阮慎禮66 người xã Phù Lỗ huyện Kim Hoa.

Chú thích:

1. Vũ Kiệt (1453-?) người xã Yên Việt huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Ngũ Thái huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 3. (1472) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Công kiêm Đông các Hiệu thư.

2. Vương Khắc Thuật (?-?) người xã Cối Giang huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Mai Lâm huyện Đông Anh Tp. Hà Nội), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 3. (1472) đời vua Lê Thánh Tông. Ông được cử đi sứ 2 lần vào năm Bính Thân (1476) và năm Mậu Thân (1488) sang nhà Minh (Trung Quốc), làm quan đến chức Tham chính.

3. Nguyễn Tiến Lương (?-?) người huyện Thiện Tài (nay thuộc huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa thi Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 3. (1472) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Tham chính.

4. Chử Phong (?-?) người xã Cối Giang huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Mai Lâm huyện Đông Anh Tp. Hà Nội), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 3. (1472) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Đề hình Giám sát Ngự sử. Được cử đi sứ (năm 1476) sang nhà Minh (Trung Quốc).

5. Nguyễn Kính Tu (?-?) người xã Đông Suất huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đông Thọ huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 3. (1472) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Hữu Thị lang và được về trí sĩ.

6. Nguyễn Nhân Dư (1456-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Giàng (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 3. (1472) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ. Ông là em Nguyễn Nhân Thiếp, Nguyễn Nhân Bị, Nguyễn Xung Xác, là anh Nguyễn Nhân Dịch.

7. Ngô Anh (?-?) người xã Đặng Xá huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Đặng Xá huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 3. (1472) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ. Có tài liệu ghi ông tên là Ngô Hán.

8. Lê Tuấn Ngạn (?-?) nguyên quán xã Vĩnh Lộc huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Ngọc Bộ (nay cũng thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Hội nguyên, vào thi Đình đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 3. (1472) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thượng thư, Tham chưởng Hàn lâm viện sự và được cử đi sứ (năm 1495) sang nhà Minh (Trung Quốc).

9. Trần Thâm: Xem chú thích số 9, Bia số 5.
10. Nguyễn Dao: Xem chú thích số 17, Bia số 5.
11. Nguyễn Ấu Miễn: Xem chú thích số 24, Bia số 5.
12 Nguyễn Dịch: Xem chú thích số 32, Bia số 5.
13. Nguyễn Tĩnh: Xem chú thích số 33, Bia số 5.
14. Phan Quý: Xem chú thích số 34, Bia số 5.
15. Thái Thuận: Xem chú thích số 35, Bia số 5.
16. Nguyễn Lễ Kính: Xem chú thích số 40, Bia số 5.
17. Tạ Đức Hải: Xem chú thích số 41, Bia số 5.
18. Nguyễn Dương Hiến: Xem chú thích số 43, Bia số 5.
19. Ngô Luân: Xem chú thích số 45, Bia số 5.
20. Nguyễn Sĩ Nguyên: Xem chú thích số 9, Bia số 6.
21. Hoàng Đức Lương: Xem chú thích số 10, Bia số 6.
22 Ngô Sở Ngọc: Xem chú thích số 11, Bia số 6.
23. Nguyễn Giản: Xem chú thích số 13, Bia số 6.
24. Nguyễn Hiến: Xem chú thích số 14, Bia số 6.
25. Quách Toản: Xem chú thích số 17, Bia số 6.
26. Nguyễn Kỳ: Xem chú thích số 22, Bia số 6.

27. Nghiêm Phụ: Xem chú thích số 23, Bia số 6.

28. Nguyễn Nghiễm: Xem chú thích số 25, Bia số 6.
29. Dương Bính: Xem chú thích số 26, Bia số 6.
30. Lương Vinh: Xem chú thích số 32, Bia số 6.
31. Phí Mẫn: Xem chú thích số 33, Bia số 6.
32 Phạm Miễn Lân: Xem chú thích số 38, Bia số 6.
33. Đào Tiến Khang: Xem chú thích số 38, Bia số 6.
34. Nguyễn Đỉnh Bật: Xem chú thích số 44, Bia số 6.
35. Nguyễn Giản Liêm: Xem chú thích số 45, Bia số 6.
36. Lê Hanh Huyễn: Xem chú thích số 51, Bia số 6.
37. Ngô Trinh Chấp: Xem chú thích số 52, Bia số 6.
38. Đào Lâm: Xem chú thích số 57, Bia số 6.
39. Đặng Cung: Xem chú thích số 60, Bia số 6.
40. Ngô Văn Cảnh: Xem chú thích số 8, Bia số 7.
41. Nguyễn Minh Thông: Xem chú thích số 16, Bia số 7.
42 Nguyễn Tôn Mậu: Xem chú thích số 21, Bia số 7.
43. Thân Tông Vũ: Xem chú thích số 28, Bia số 7.
44. Nguyễn Tất Thông: Xem chú thích số 31, Bia số 7.
45. Nguyễn Đình Tuấn: Xem chú thích số 34, Bia số 7.
46. Lưu Di Quyết: Xem chú thích số 37, Bia số 7.
47. Lê Tứ: Xem chú thích số 38, Bia số 7.
48. Dương Nghĩa Phương: Xem chú thích số 41, Bia số 7.
49. Lê Đức Trung: Xem chú thích số 42, Bia số 7.
50. Nguyễn Oanh: Xem chú thích số 43, Bia số 7.

51. Nguyễn Quang Bật (1464-?) người xã Bình Ngô huyện Gia Định (nay thuộc xã An Bình huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15. (1484) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm ở Đông các và làm Hàn lâm viện Thị thư, thăng Đô Ngự sử, là thành viên Hội Tao đàn. Ông cùng Đàm Văn Lễ nhận di chiếu của Lê Hiến Tông để giúp Túc Tông lên ngôi. Sau này, Lê Uy Mục lên ngôi, đã đem lòng oán giận vì không lập mình, đã giáng ông vào Quảng Nam làm Thừa tuyên sứ, đến sông Phúc Giang bị bức tử. Lê Tương Dực lên ngôi, truy phong chức tước để nêu gương người trung nghĩa.

52 Đào Như Khuê (?-?) người xã Tri Nhị huyện Quế Dương (nay thuộc huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15. (1484) đời vua Lê Thánh Tông.

53. Tạ Tài (?-?) người xã Tùng Hộ huyện Kim Hoa (nay thuộc huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15. (1484) đời vua Lê Thánh Tông. Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

54. Phạm Trí Khiêm (1461-?) người xã An Tráng huyện Thiện Tài (nay thuộc xã An Thịnh huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15. (1484) đời vua Lê Thánh Tông. Thi Hội, ông đỗ Hội nguyên. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Lại, Đông các Hiệu thư.

55. Nguyễn Doãn Tu (1456-?) người xã Hoa Thiều huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15. (1484) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Hình khoa Đô Cấp sự trung. Ông là con của Nguyễn Khắc Kế và là cha của Nguyễn Doãn Thăng.

56. Tống Phúc Lâm (1456-?) người xã Nhất Trai huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Minh Tân huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15. (1484) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làmquan đến chức Hàn lâm viện Thừa chỉ và được cử đi sứ.

57. Lê Nhữ Thông (?-?) người huyện Tân Phúc (nay thuộc huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15. (1484) đời vua Lê Thánh Tông. Có tài liệu ghi là Lê Đoan Tự. Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

58. Nguyễn Nguyên Cữu (?-?) người xã Nội Duệ huyện Tiên Du (nay là thuộc xã Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15. (1484) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Tế tửu Quốc tử giám. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Vô Cữu hoặc Nguyễn Tiên Cữu.

59. Thân Cảnh Vân: Xem chú thích số 5, Bia số 8.
60. Nguyễn Cẩn Liêm: Xem chú thích số 13, Bia số 8.
61. Ngô Ngọc: Xem chú thích số 24, Bia số 8.
62 Nguyễn Úc: Xem chú thích số 38, Bia số 8.
63. Nguyễn Diệu Huy: Xem chú thích số 42, Bia số 8.
64. Nguyễn Hanh Phu: Xem chú thích số 43, Bia số 8.
65. Phạm Thịnh: Xem chú thích số 51, Bia số 8.
66. Nguyễn Thận Lễ: Xem chú thích số 57, Bia số 8.

Người thầy có nhiều học trò thi đỗ đại khoa nhất nước

đăng 23:47, 16 thg 7, 2012 bởi Đức Nghiêm   [ cập nhật 00:52, 7 thg 10, 2012 bởi Mailbox Phay ]

    Có một thầy giáo tuy sách vở rất ít đề cập đến, song sự nghiệp giáo dục của ông lại hết sức vẻ vang, xứng đáng giữ vị trí hàng đầu trong sự nghiệp đào tạo nhân tài cho đất nước! Đó là trường hợp thày đồ Trần Ích Phát, quê ở làng Triều Dương, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, một nhà sư phạm tài năng giữ kỷ lục về số lượng học trò đỗ trạng nguyên, bảng nhãn, thám nguyên trong lịch sử khoa bảng nước ta.  

Những kỳ tích của thày giáo họ Trần

Theo một số tư liệu ít ỏi còn lại thì tự thuở nhỏ, ông Trần đã tỏ ra rất thông tuệ. Hễ nghe nhìn thấy cái gì mới lạ dù chỉ một lần là đã nhớ nhập tâm ngay. Tuy mãi 10 tuổi mới được đến trường, nhưng đến tuổi 15 thì các sách vở thi ca, kinh nghĩa… đương thời ông đều đọc hết và nức tiếng văn chương trong thiên hạ. Vào niên hiệu Thái Hòa, triều vua Lê Nhân Tông (1443-1453), có tổ chức các khoa thi hương. Ông Trần Ích Phát dự thi và đã đỗ đầu (giải nguyên). Kế tiếp 2 khoa thi hội vào năm Mậu Thìn (1448) và năm Nhâm Thân (1452), ông Trần đi thi tiếp, song không đỗ.


Lớp học xưa

Thấy con đường khoa hoạn bất trắc, không toại nguyện, ông về quê mở trường dạy học. Học trò khắp nơi, thế hệ này tiếp thế hệ khác, nghe tiếng đã tìm đến xin được thụ giáo thày Trần rất đông.Có một điều tuy sách vở xưa ít đề cập đến nhưng không khỏi làm chúng ta ngạc nhiên và bái phục, đó là riêng số học trò do thầy Trần Ích Phát đào tạo đã có tới 67 người đỗ đại khoa, từ tiến sĩ trở lên. Trong số này riêng bậc “Tam khôi” đã có 3 trạng nguyên, 4 bảng nhãn và 10 thám hoa lang, được ghi chép rõ ràng trong sách vở.

Tính ra trong lịch sử các khoa thi đình dưới chế độ phong kiến Việt Nam thì chỉ có 48 người chiếm được học vị trạng nguyên (có một số tài liệu ghi 45 người). Trong khi đó riêng thầy Trần Ích Phát đã đào tạo được 3 trạng nguyên. Đó là Vũ Kiệt, người huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh bây giờ, đỗ trạng nguyên khoa thi năm Nhâm Thìn, niện hiệu Hồng Đức thứ 3 (1472). Người thứ 2 là Trần Sùng Dĩnh, quê huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, đỗ trạng nguyên khoa thi Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487). Và người thứ 3 là Nghiêm Viện, quê huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, đỗ trạng nguyên khoa thi năm Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496). Vậy là một thầy giáo trong quãng đời ngắn ngủi của mình đã đào tạo được 3 trong tổng số 48 trạng nguyên của cả nước (phải trải qua hàng trăm năm thi cử mới tuyển chọn được), thì quả là một kỳ tích!

Một điểm khá đặc biệt nữa rất hiếm thấy trong nền khoa bảng nước ta là ở 2 khoa thi đình năm Hồng Đức thứ 18 và thứ 27, tất cả bảng Tam khôi (từ thám hoa, bảng nhãn đến trạng nguyên) đều do học trò của thầy giáo họ Trần này độc chiếm!

Cụ thể, khoa thi năm Đinh Mùi, triều Lê Thánh Tông (1487), ngoài Trần Sùng Dĩnh chiếm trạng nguyên nhất bảng, thì người đứng thứ 2 là bảng nhãn Nguyễn Đức Huấn (người huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) và người đứng thứ 3 là thám hoa Thân Cảnh Vân (quê ở Yên Dũng, tỉnh Bắc Ninh) cũng đều là học trò của thầy Trần Ích Phát. Đến khoa thi năm Bính Thìn, cũng dưới triều vua Lê Thánh Tông (1496) thì toàn bảng tam khôi cả 3 người cũng là học trò của thầy giáo họ Trần. Đó là Nghiêm Viện đỗ trạng nguyên, Nguyễn Huân (người Võ Giang, tỉnh Bắc Ninh) đỗ bảng nhãn và Đinh Lưu Kim (người Thanh Lâm, tỉnh Hải Dương) đỗ thám hoa.

Điểm rất thú vị nữa là nhiều học trò của thầy Trần Ích Phát chiếm bảng vàng khi tuổi đời rất trẻ. Chẳng hạn như Vũ Kiệt, đỗ trạng nguyên năm 21 tuổi. Trần Sùng Dĩnh đỗ trạng nguyên năm 23 tuổi. Nguyễn Huân đỗ bảng nhãn năm 21 tuổi, Đinh Lưu Kim đỗ thám hoa khi mới 18 tuổi. Thân Cảnh Vân đỗ thám hoa năm 25 tuổi…

Thầy Trần đã "luyện thi" theo phương pháp nào?

Có thể nói Trần Ích Phát đã có công đào tạo một loạt thần đồng nước ta thời bấy giờ. Ông đã phát huy được trí thông minh sáng tạo của lớp học trò trẻ tuổi, giúp họ đoạt được các học vị cao nhất nước. Tài liệu xưa đã mất mát hết, nên đến nay chúng ta không hay biết thấy giáo họ Trần đã sử dụng những phương pháp giáo dục như thế nào để có thể thành công tuyệt vời trong việc phát huy trí tuệ xuất sắc của những học trò tuổi đời còn rất trẻ, nhằm vươn lên chiếm được đỉnh cao nhất của học vấn đương thời.

Ngày nay, người ta không tìm được các bài luận văn trạng nguyên, bảng nhãn là tác phẩm của học trò thầy Trần để xem họ thể hiện tư duy sáng tạo như thế nào. Nhưng, sử sách còn ghi lại rằng khoa thi đình năm Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức (1472), với đề văn sách hỏi về việc “Đế vương trị thiên hạ” (do vua Lê Thánh Tông đích thân ra), thì trong bài đối sách của mình, Vũ Kiệt - người học trò của thầy giáo họ Trần - đã biết viện dẫn những sách vở kinh điển nổi tiếng và sử dụng kinh nghiệm tư duy sáng tạo để làm một bài nghị luận sắc sảo, lời văn bóng bảy lưu loát dài đến hơn 3 vạn chữ. Khi chấm bài, nhà vua và các khảo quan đều lấy làm hài lòng về kiến thức uyên bác của Vũ Kiệt.

Trong luận văn của mình, ông đã đề xuất với triều đình những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn các tệ nạn xã hội nhằm chấn hưng đất nước. Chẳng hạn như khi vua hỏi tại sao quan lại được chọn cử nghiêm ngặt, lại có thêm có thêm các chức quan ngự sử, giám sát theo dõi, kiểm tra mà vẫn có nhiều người tham ô, hối lộ, làm những việc đồi bại? Vũ Kiệt đã lập luận như sau: “Việc giáo dục phẩm chất cho quan lại phải tiến hành ngay từ lúc họ ngồi trên ghế nhà trường. Nếu khi học, họ đã có tư tưởng dối trá, mẹo mực, thì khi ra đảm nhiệm việc quan làm sao có thể có được phẩm chất thanh liêm, trong sạch”.

Hoặc Vũ Kiệt đã đề xuất muốn giữ kỷ cương phép nước thì trước tiên phải thực hiện thật nghiêm túc từ vua cho đến triều đình. Bởi lẽ không thể để nước đầu nguồn đục mà lại đòi hỏi nước cuối nguồn phải trong!

Qua vài tài liệu ít ỏi còn lại, chúng ta có thể hình dung được phần nào phương pháp dạy học của thầy giáo họ Trần là luôn đòi hỏi học trò phải biết rèn luyện tư cách, phẩm chất bản thân, luôn làm quen việc vận dụng kiến thức sách vở đã học một cách sáng tạo và kinh nghiệm thực tế để giải quyết những vấn đề mà tình huống đặt ra.

Các đề thi đình thời kỳ này nhà vua thường nêu ra những vấn đề liên quan đến việc cai trị đất nước, ví như đề thi năm Nhâm Thìn (1472) là “Đế vương trị thiên hạ”, đề thi năm Đinh Mùi (1487) là “Đạo trị nước”, đề thi năm Giáp Thìn (1484) là “ Triều Tống dùng nho sĩ”…Xem thế thì biết vua Lê Thánh Tông rất trăn trở muốn các sĩ tử đem tài năng trí tuệ của mình hiến kế làm sao để khắc phục được những tệ nạn, đưa đất nước trở nên hưng thịnh.

Việc học trò của thầy Trần Ích Phát có những luận văn xuất sắc để xuất các kiến giải độc đáo, giành được những thứ bậc cao nhất trong bảng Tam khôi, chứng tỏ thầy giáo họ Trần đã vận dụng thành công phương pháp dạy học kích thích tính tích cực tối đa trong học tập, mà nhà giáo dục lớn của phương Đông cổ đại là Khổng Tử từng đề xuất: “Vật có 4 góc cho biết một góc phải suy ra ba góc kia. Nếu cứ hỏi làm thế nào, thế nào thì không dạy nữa!”

Rất tiếc là đến nay chưa tra cứu được các vị tiến sĩ, học trò của thầy Trần Ích Phát đã có những cống hiến như thế nào cho đất nước. Nhưng qua hơn chục vị trong bảng Tam khôi đã được sách xưa ghi chép, chúng ta cũng thấy được nhiều người trong số họ thực sự có tài và đã có những cống hiến nhất định. Một số đã đảm đương các chức vụ cao nhất trong bộ máy nhà nước đương thời, là những cánh tay đắc lực góp phần giúp nhà vua chấn hưng và đưa nước nhà đến giai đoạn cực thịnh. Chẳng hạn như trạng nguyên Trần Sùng Dĩnh, các bảng nhãn Nguyễn Huân, Nguyễn Đức Huấn, thám hoa Lê Ninh đỗ khoa thi đình năm Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1478)… đều giữ chức vụ Thượng thư. Một số là những nhà ngoại giao xuất sắc được cử làm chánh phó sứ sang giao hảo với nước láng giềng Trung Quốc nhằm thực hiện chính sách hòa bình, giữ vững toàn diện lãnh thổ và để nhân dân được yên ốn làm ăn xây dựng đất nước. Nhiều người đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc và được triều đình đánh giá cao như bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh, đỗ khoa đình năm Quý Mùi niên hiệu Quang Thận thứ 4 (1463), thám hoa Lê Ninh, thám hoa Vương Khắc Thuật, đỗ thủ khoa thi đình năm Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 3 (1472)…

Người thầy khiến nhà vua cũng nể trọng

Đặc biệt trong số 28 ngôi sao (Nhị thập bát tú) của hội Tao Đàn do vua Lê Thánh Tông sáng lập và làm chủ súy, gồm những vị đại khoa tài giỏi văn chương, cũng có mặt một số học trò của thầy Trần Ích Phát, như trạng nguyên Trần Sùng Dĩnh, thám hoa Nguyễn Đức Huấn, thám hoa Lưu Ngạn Thu (có sách chép là Lưu Thu Ngạn) đỗ khoa thi đình năm Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490)…Một số học trò của thầy giáo họ Trần còn để lại các tác phẩm văn học được ghi trong sách “Toàn việt thi lục” như các bài thơ của trạng nguyên Trần Sùng Dĩnh, bảng nhãn Lưu Đức Huấn, hoàng giáp Trần Hoành.

Học trò nhiều thế hệ ở khắp nơi và đã lũ lượt tìm đến Chí Linh, Hải Dương để được theo học thày Trần Ích Phát. Ngoài số đông ở tại địa phương còn có những học trò từ nơi khác như trạng nguyên Vũ Kiệt, Nghiêm Viện (Bắc Ninh) thám hoa Lê Ninh (Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú) thám hoa Trần Bích Hoàng (Vụ Bản, Nam Hà), thám hoa Nguyễn Doãn Địch (Thanh Oan, Hà Tây), thám hoa Lưu Ngạn Thư (Vĩnh Bảo, Hải Phòng)…

Sách vở xưa cho biết thêm, từ thời còn là hoàng tử, Lê Thánh Tông đã từng biết tiếng Trần Ích Phát và đem lòng quý trọng. Đến khi Lê Thánh Tông lên ngôi vua (1460) tuy Trần Ích Phát chỉ đỗ hương tiến, không ra làm quan, mà chỉ dạy học ở quê, song qua mấy khoa thi hội, thi đình, thấy học trò của ông chiếm hầu hết các bậc Tam khôi, vua Lê Thánh Tông càng thêm quan tâm, trọng vọng. Nhà vua đặc cách xem ông ngang với các bậc đỗ đại khoa và phong cho nhiều chức tước cao, từ Giám sát ngự sử, Hiến sát sử, cho đến Đông các đại học sĩ…

Thầy Trần Ích Phát thọ đến 100 tuổi.

(Từ các nguồn)

Bảng tra từ Từ điển Hán Nôm chức quan Việt Nam phong kiến

đăng 08:29, 14 thg 7, 2012 bởi Đức Nghiêm   [ đã cập nhật 02:36, 12 thg 3, 2014 ]



TT

TÊN CHỨC QUAN

 

1

A bảo

阿 保

2

Á bảng

亞 榜

3

Á đại liêu ban

亞 大 僚 班

4

Á hầu

亞 侯

5

Á huyện quân

亞 縣 君

6

Á khanh

亞 卿

7

Á khôi

亞 魁

8

Á lệnh sử

亞 令 史

9

Á nguyên

亞 元

10

Á quan nội hầu

亞 關 內 侯

11

Á quận quân

亞 郡 君

12

Á thượng hầu

亞 上 侯

13

Á tướng

亞 相

14

Á vương

亞 王

15

Ải mục

隘 牧

16

An Bắc dinh

安 北 營

17

An Đông tướng quân

安 東 將 軍

18

An Nam đô hộ phủ

安 南 都 擭 府

19

An Nam phó quốc vương

安 南 副 國 王

20

An Nam quốc sự

安 南 國 事

21

An Nam quốc vương

安 南 國 王

22

An Nam thượng vương

安 南 上 王

23

An Nam tướng quân Đô đốc  Giao Châu chư quân sự

安 南 將 軍 都 督 交 洲 諸 軍 事

24

An nhân

安 人

25

An phủ đại sứ

安 撫 大 使

26

An phủ phó sứ

安 撫 副 使

27

An phủ sứ

安 撫 使

28

An quốc

安 國

29

An Tây

安 西

30

An Tây dinh

安 西 營

31

An Tây vương

安 西 王

32

Án ngục lại

按 獄 吏

33

Án sát

按 察

34

Án sát sứ ty

安 察 使 司

35

Ấn

36

Âm dương học

陰 陽 學

37

Âm dương huấn thuật

陰 陽 訓 述

38

Âm thanh bác sĩ

音 聲 博 士

39

Ấm

40

Ấm sanh

蔭 生

41

Ân khoa

恩 科

42

Ấn quan

印 官

43

Ấn ty

印 司

44

Ất bảng

乙 榜

45

Ất tiến sĩ

乙 進 士

46

Âu Lạc

歐 雒

47

Ấu học

幼 學

48

49

Bạ đầu cách

簿 頭 格

50

Bạ thư lệnh

簿 書 令

51

Bác cử

博 舉

52

Bác học hoành tài

博 學 宏 才

53

Bách hộ

百 戶

54

Bách hý tả hữu sở phó sứ

百 戲 左 右 所 副 使

55

Bách hý tả hữu sở sở sứ

百 戲 左 右 所 所 使

56

Bách phủ

柏 府

57

Bách trưởng lệ

百 長 隸

58

Bản chương sở

板 章 所

59

Bản tịch thanh lại ty

本 籍 清 吏 司

60

Bạn độc

伴 讀

61

Bang biện

幫 辦

62

Bang tá

幫 佐

63

Bảng con

小 榜

64

Bảng nhãn

榜 眼

65

Bảo

66

Bảo

67

Bảo hộ ty

保 護 司

68

Bắc hiến thanh lại ty

北 憲 清 吏 司

69

Bắc kỳ thanh lại ty

北 圻 清 吏 司

70

Bắc quân đô đốc phủ

北 軍 都 督 府

71

Bắc quân phủ

北 軍 府

72

Bắc tào đạo

北 曹 道

73

Bệ hạ

陛 下

74

Bí thư các

秘 書 閣

75

Bí thư giảm

秘 書 監

76

Bí thư giám điển hàn

秘 書 監 典 翰

77

Bí thư giám điển thư

秘 書 監 典 書

78

Bí thư sảnh

秘 書 省

79

Bí thư sở

秘 書 所

80

Biên tu

編 修

81

Biền binh

弁 兵

82

Biện lý

辦 理

83

Biển bạ tào

表 簿 曹

84

Binh bộ

兵 部

85

Binh bộ tham tri

兵 部 參 知

86

Binh bộ thị lang

兵 部 侍 郎

87

Binh bộ thượng thư

兵 部 尚 書

88

Binh mã phó sứ

兵 馬 副 使

89

Binh mã sứ

兵 馬 使

90

Binh trực xứ

兵 值 處

91

Bình bạc ty

平 泊 司

92

Bình chương quân quốc sự

平 章 軍 國 事

93

Bình chương quân quốc trọng sự

平 章 軍 國 重 事

94

Bình chương sự

平 章 事

95

Bình đông

平 東

96

Bình luận

平 論

97

Bình tây

平 西

98

Bố chính sứ

布 政 使

99

Bố chính sứ ty

布 政 使 司

100

Bồ chính

蒲 政

101

Bộ đường

部 堂

102

Bồi tụng

陪 誦

103

Bồi vệ quân

陪 衛 軍

104

Bút thiếp thức

筆 帖 式

105

Bưu chính ty

郵 政 司

106

Ca trưởng

歌 長

107

Các hạ

閣 下

108

Các lão

閣 老

109

Cai án

該 按

110

Cai bạ

該 簿

111

Cai cơ

該 奇

112

Cai đội

該 隊

113

Cai hợp

該 合

114

Cai lệ

該 隸

115

Cai phủ

該 府

116

Cai phủ tào

該 府 曹

117

Cai quan

該 關

118

Cai thu

該 收

119

Cai thuộc

該 屬

120

Cai tổng

該 總

121

Cai trại

該 寨

122

Cai tri

該 知

123

Cai tư

該 司

124

Cáo thụ

誥 受

125

Cảo điền hoành

鎬 田 橫

126

Cáp môn đãi chiếu

閤 門 待 詔

127

Cáp môn phó sứ

閤 門 副 使

128

Cáp môn sứ

閤 門 使

129

Cát địa sứ

割 地 使

130

Cát sĩ khoa

吉 士 科

131

Cấm binh

禁 兵

132

Cấm binh thủ ngự tam ty

禁 兵 守 御 三 司

133

Cấm quân

禁 軍

134

Cấm vệ quân

禁 衛 軍

135

Cẩm y vệ

錦 衣 衛

136

Cảnh tất ty

警 蹕 司

137

Cần chính điện đại học sĩ

勤 政 殿 大 學 士

138

Cẩn nhân

謹 人

139

Cẩn đức điện

謹 德 殿

140

Cẩn tín ty

謹 信 司

141

Cận thị cục

近 侍 局

142

Cận thị cục học sinh

近 侍 局 學 生

143

Cận thị thự lục cục tri hậu

近 侍 署 六 局 知 後

144

Cấp sự trung

給 事 中

145

Câu đương

勾 當

146

Câu kê

勾 計

147

Chánh cai bạ

正 該 簿

148

Chánh cai huyện

正 該 縣

149

Chánh chưởng phụng ngự

正 掌 奉 御

150

Chánh dinh cai bạ

正 營 該 簿

151

Chánh doanh thống chế

正 營 統 制

152

Chánh đề hạt

正 提 轄

153

Chánh đồ khoa

正 途 科

154

Chánh đốc học

正 督 學

155

Chánh đội trưởng

正 隊 長

156

Chánh hộ

正 戶

157

Chánh phó thông chính

正 副 通 正

158

Chánh thủ

正 守

159

Chánh võ úy

正 武 尉

160

Chân thượng đô

真 上 都

161

Chấn uy vệ

震 威 衛

162

Chấp kim ngô

執 金 吾

163

Châu mục

州 牧

164

Chế cáo

制 告

165

Chế, cáo, sắc

制 告 敕

166

Chế khoa

制 科

167

Chế trí sứ ty

制 置 使 司

168

Chi hậu

祇 候

169

Chi hậu bạ thư

祇 候 簿 書

170

Chi ứng cục

支 應 局

171

Chí tôn

至 尊

172

Chỉ huy

指 揮

173

Chỉ huy đồng tri

指 揮 同 知

174

Chỉ huy sứ

指 揮 使

175

Chỉ huy thiêm sự

指 揮 簽 事

176

Chiêm hậu

占 候

177

Chiêm hậu sinh

占 候 生

178

Chiêm hậu ty

占 候 司

179

Chiêu dung

昭 容

180

Chiêu dụ sứ

招 諭 使

181

Chiêu nghi

招 儀

182

Chiêu phủ sứ

招 撫 使

183

Chiêu thảo đồng tri

招 討 同 知

184

Chiêu thảo sứ

招 討 使

185

Chiêu thảo sứ ty

招 討 使 司

186

Chiêu thảo thiêm sự

招 討 簽 事

187

Chiêu văn quán

昭 文 館

188

Chiêu viên

昭 媛

189

Chiêu vũ vệ

招 武 衛

190

Chiếu khám

照 勘

191

Chiếu ma

照 磨

192

Chính hình viện đại phu

政 刑 院 大 夫

193

Chính sự đường

政 事 堂

194

Chính sự viện

政 事 院

195

Chính trị khanh

政 治 卿

196

Chính trị thượng khanh

政 治 上 卿

197

Chính tự

政 字

198

Chỉnh đốn lang

整 頓 郎

199

Chú tạo đại sứ

鑄 造 大 使

200

Chủ bạ

主 簿

201

Chủ sự

主 事

202

Chủ thư

主 書

203

Chủ thư lệnh sử

主 書 令 史

204

Chúa thượng

主 上

205

Chủng trà sở sở sứ

種 茶 所 所 使

206

Chưởng ấn

掌 印

207

Chưởng bạ

掌 簿

208

Chưởng bạ thư

掌 簿 書

209

Chưởng cơ

掌 奇

210

Chưởng đốc

掌 督

211

Chưởng lịch

掌 歷

212

Chưởng liễn cục cục chánh

掌 聯 局 局 正

213

Chưởng liễn cục cục phó

掌 聯 局 局 副

214

Chưởng phủ sự

掌 府 事

215

Chưởng quản thị vệ

掌 管 侍 衛

216

Chưởng thư ký

掌 書 記

217

Chưởng vệ

掌 衛

218

Chưởng vệ sự

掌 衛 事

219

Chưởng viện học sĩ

掌 院 學 士

220

Chuyển vận sứ

轉 運 使

221

Công

222

Công ấn ty công trực xứ

公 印 司 公 直 處

223

Công bộ

工 部

224

Công bộ tham tri

工 部 參 知

225

Công bộ thị lang

工 部 侍 郎

226

Công bộ thượng thư

工 部 尚 書

227

Công chúa

公 主

228

Công tào

功 曹

229

Công trình thanh lại ty

工 程 清 使 司

230

Công tử

公 子

231

Cống cử

貢 舉

232

Cống sinh

貢 生

233

Cống sĩ

貢 士

234

Cống sĩ viện

貢 士 院

235

Cơ mật viện

機 密 院

236

Cung

237

Cung điện lệnh

宮 殿 令

238

Cung môn thừa chế giám

宮 門 承 制 監

239

Cung nhân

宮 人

240

Cung nhân

241

Cung phi

宮 妃

242

Cung sư phủ

宮 師 府

243

Cử nhân

舉 人

244

Cưỡng lực ty

強 力 司

245

Cửu khanh

九 卿

246

Cửu tần

九 嬪

247

Cửu tích

九 賜

248

Cửu viên cung chánh chưởng

九 仙 宮 正 掌

249

Cửu viên cung phó chưởng

九 仙 宮 副 掌

250

Cửu tự

九 寺

251

Dã năng

野 能

252

Di phong

彌 封

253

Dịch mục

驛 牧

254

Dịch thừa

驛 承

255

Dinh

256

Dinh điền phó sứ

營 田 副 使

257

Dinh điền sứ

營 田 使

258

Diêm khóa đề cử ty

鹽 課 提 舉 司

259

Diêm vận sứ

鹽 運 使

260

Doãn

261

Doanh kiến thanh lại ty

營 建 清 吏 司

262

Doanh thiện thanh lại ty

營 繕 清 吏 司

263

Du kích tướng quân

游 擊 將 軍

264

Dung hoa

容 華

265

Duyện

266

Dực hùng vệ

翼 雄 衛

267

Dực hùng giám thành thủ hộ phó vệ úy

翼 雄 監 城 守 護 副衛 尉

268

Dực hùng giám thành thủ hộ vệ  úy

翼 雄 監 城 守 護 衛

269

Dực long

翼 龍

270

Đài quan

臺 官

271

Đãi chế

待 制

272

Đãi chiếu

待 詔

273

Đãi lậu viện

待 漏 院

274

Đại an phủ sứ

大 安 撫 使

275

Đại doãn

大 尹

276

Đại doanh điền nha

大 營 田 衙

277

Đại đô hộ

大 都 護

278

Đại đội trưởng

大 隊 長

279

Đại hành khiển thượng thư tả  bộc xạ

大 行 遣 尚 書 左 僕 射

280

Đại hành khiển thượng thư tả phụ

大 行 遣 尚 書 左 輔

281

Đại liên ban

大 僚 班

282

Đại lý

大 理

283

Đại lý tự

大 理 寺

284

Đại lý tự bình sự

大 理 寺 評 事

285

Đại lý tự khanh

大 理 寺 卿

286

Đại lý tự phán chính

大 理 寺 判 正

287

Đại lý tự thiếu khanh

大 理 寺 少 卿

288

Đại nguyên soái

大 元 帥

289

Đại nguyên súy thống quốc  chính sư phụ Thanh vương

大 元 帥 統 國 政 師 父 青 王

290

Đại phu

大 夫

291

Đại sư

大 師

292

Đại thiên hành hóa

代 天 行 化

293

Đại tỉ khoa

大 比 科

294

Đại tôn chính

大 宗 正

295

Đại tôn chính phủ

大 宗 正 府

296

Đại tổng quản

大 總 管

297

Đại trấn phủ

大 鎮 撫

298

Đại tri châu

大 知 州

299

Đại tri phủ

大 知 府

300

Đại trí tự

大 知 寺

301

Đại tư đồ

大 司 徒

302

Đại tư hiến

大 司 憲

303

Đại tư không

大 司 空

304

Đại tư mã

大 司 馬

305

Đại tư nhạc

大 司 樂

306

Đại tư nông

大 司 農

307

Đại tư thành

大 司 成

308

Đại tư xã

大 司 社

309

Đại tướng quân

大 將 軍

310

Đại Việt

大 越

311

Đại vương

大 王

312

Đào nương

陶 娘

313

Đạo

314

Đạo chính ty

道 正 司

315

Đạo hội ty

道 會 司

316

Đạo kỷ ty

道 紀 司

317

Đạo lục ty diễn pháp

道 錄 司 演 法

318

Đạo lục ty đạo thống

道 錄 司 道 統

319

Đạo sĩ

道 士

320

Đạo thừa tuyên

道 承 宣

321

Đạt lại

達 吏

322

Đạt lỗ hoa xích

達 魯 華 赤

323

Đặc tiến

特 進

324

Đăng văn kiểm pháp viện

登 聞 檢 法 院

325

Đăng văn triều chính

登 聞 朝 政

326

Đằng lục

滕 錄

327

Đê chính nha

堤 政 衙

328

Đê chính ty

堤 政 司

329

Đế

330

Đề cử

提 舉

331

Đề điệu

提 調

332

Đề đốc

提 督

333

Đề hạt

提 轄

334

Đề hình

提 刑

335

Đề hình án sát sứ

提 刑 按 察 使

336

Đề hình giám sát ngự sử

提 刑 監 察 御 史

337

Đề khống

提 控

338

Đề lại

提 吏

339

Đề lãnh

提 領

340

Đệ chuyển sở

遞 轉 所

341

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ

第 一 甲 進 士 及 第

342

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân

第 二 甲 進 士 出 身

343

Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất  thân

第 三 甲 同 進 士 出 身

344

Điền nông đô úy

田 農 都 尉

345

Điển bạ

典 簿

346

Điển bộ

典 部

347

Điển cứu ty ty chánh

典 救 司 司 正

348

Điển hàn ty

典 翰 司

349

Điển hiệu

典 校

350

Điển học

典 學

351

Điển khách thự

典 客 署

352

Điển lại

典 吏

353

Điển lục quốc tử giám

典 錄 國 子 監

354

Điển mục sở phó sứ

典 牧 所 副 使

355

Điển mục sở sở sứ

典 牧 所 所 使

356

Điển nghi ty lang trung

典 儀 司 郎 中

357

Điển nghĩa

典 義

358

Điển ngục

典 獄

359

Điển nhạc

典 樂

360

Điển sứ

典 使

361

Điển sự thái giám

典 事 太 監

362

Điển sự tế tự

典 事 祭 祀

363

Điển sự tế tự ty

典 事 祭 祀 司

364

Điển tàng cục cục chánh

典 藏 局 局 正

365

Điển tàng cục cục phó

典 藏 局 局 副

366

Điển thiện

典 膳

367

Điển thiết

典 設

368

Điển thư

典 書

369

Điển thư ty

典 書 司

370

Điển tịch

典 籍

371

Điện hạ

殿 下

372

Điện súy thượng tướng quân

殿 帥 上 將 軍

373

Điện tiền cấm quân

殿 前 禁 軍

374

Điện tiền chỉ huy sứ

殿 前 指 揮 使

375

Điện tiền hiệu điểm

殿 前 校 點

376

Điện trung thị ngự sử

殿 中 侍 御 史

377

Đình nguyên

廷 元

378

Đình thí

廷 試

379

Đình thượng hầu

亭 上 侯

380

Đình úy tự

廷 尉 寺

381

Đình úy tự khanh

廷 尉 寺 卿

382

Đình úy tự thiếu khanh

廷 尉 寺 少 卿

383

Đình úy ty

廷 尉 司

384

Định thắng thượng tướng

定 勝 上 將

385

Điều khiển

調 遣

386

Điều ký

條 記

387

Đoan bản đường

端 本 堂

388

Đoan nhân

端 人

389

Đoàn luyện sứ

團 練 使

390

Đoán sự

斷 事

391

Đô

392

Đô áp quan

都 押 官

393

Đô bảo

都 堡

394

Đô cấp sự trung

都 給 事 中

395

Đô chỉ huy đồng tri

都 指 揮 同 知

396

Đô chỉ huy sứ

都 指 揮 使

397

Đô chỉ huy sứ ty

都 指 揮 使 司

398

Đô chỉ huy thiêm sự

都 指 揮 僉 事

399

Đô đô tri

都 都 知

400

Đô đốc

都 督

401

Đô đốc đồng tri

都 督 同 知

402

Đô đốc phủ

都 督 府

403

Đô đốc thiêm sự

都 督 僉 事

404

Đô giám

都 監

405

Đô hiệu

都 校

406

Đô hiệu điểm

都 校 點

407

Đô hộ

都 護

408

Đô hộ phủ

都 護 府

409

Đô hộ phủ sĩ sư

都 護 府 士 師

410

Đô kiểm điểm

都 檢 點

411

Đô lại

都 吏

412

Đô ngự sử

都 御 史

413

Đô phi võ lực sĩ nội sứ

都 飛 武 力 士 內 使

414

Đô quan

都 官

415

Đô quân

都 軍

416

Đô sắc trưởng

都 色 長

417

Đô sát viện

都 察 院

418

Đô sự

都 事

419

Đô tào

都 曹

420

Đô thái giám

都 太 監

421

Đô thí

都 試

422

Đô thống

都 統

423

Đô thống chế

都 統 制

424

Đô thống chưởng phủ sự

都 統 掌 府 事

425

Đô thống đại nguyên soái

都 統 大 元 帥

426

Đô thống phủ

都 統 府

427

Đô thống sứ ty đô thống sứ

都 統 使 司 都 統 使

428

Đô tổng

都 總

429

Đô tổng binh sứ

都 總 兵 使

430

Đô tổng quản

都 總 管

431

Đô tổng tri

都 總 知

432

Đô tri

都 知

433

Đô tuần kiểm

都 巡 檢

434

Đô tướng

都 將

435

Đô ty

都 司

436

Đô ty An Bang

安 邦 都 司

437

Đô ty Hưng Hóa

興 化 都 司

438

Đô ty Lạng Sơn

諒 山 都 司

439

Đô ty Nghệ An

義 安 都 司

440

Đô ty Quảng Nam

廣 南 都 司

441

Đô ty Thái Nguyên

太 原 都 司

442

Đô ty Thanh Hóa

清 化 都 司

443

Đô ty Thuận Hóa

順 化 都 司

444

Đô ty Tuyên Quang

宣 光 都 司

445

Đô úy

都 尉

446

Đồ gia

塗 家

447

Đồ ký

圖 記

448

Đồ thư tào

圖 書 曹

449

Độ chi thanh lại ty

度 支 清 吏 司

450

Độ trưởng

渡 長

451

Độ tư

渡 斯

452

Đốc đồng

督 同

453

Đốc học

督 學

454

Đốc hộ

督 護

455

Đốc lãnh

督 領

456

Đốc phủ

督 撫

457

Đốc thị

督 視

458

Đốc trấn

督 鎮

459

Đốc vận

督 運

460

Đốc xuất

督 出

461

Đối độc

對 讀

462

Đội trưởng

隊 長

463

Đồn điền sở

屯 田 所

464

Đồn điền sở phó sứ

屯 田 所 副 使

465

Đồn điền sở sứ

屯 田 所 使

466

Đồn điền sứ

屯 田 使

467

Đông các đại học sĩ

東 閣 大 學 士

468

Đông các hiệu thư

東 閣 校 書

469

Đông các học sĩ

東 閣 學 士

470

Đông các khoa

東 閣 科

471

Đông cung

東 宮

472

Đông cung thị giảng

東 宮 侍 講

473

Đông đường

東 堂

474

Đông quan

東 官

475

Đông quân đô đốc phủ

東 軍 都 督 府

476

Đông quân phủ

東 軍 府

477

Đông thượng cáp môn sứ

東 上 閤 門 使

478

Đồng

479

Đồng bình chương quân quốc sự

同 平 章 軍 國 事

480

Đồng bình chương sự

同 平 章 事

481

Đồng đô tướng

同 都 將

482

Đồng quan

銅 官

483

Đồng tổng binh

同 總 兵

484

Đồng tổng quản

同 總 管

485

Đồng tri châu

同 知 州

486

Đồng tri giám sự

同 知 監 事

487

Đồng tri phủ

同 知 府

488

Đồng tri thẩm hình viện

同 知 審 刑 院

489

Đồng tri tiết độ sứ sự

同 知 節 度 使 事

490

Đồng trung thư môn hạ bình  chương sự

同 中 書 門 下 平 章 事

491

Đồng văn nhã nhạc thự thự chánh

同 文 雅 樂 署 署 正

492

Đồng văn nhã nhạc thự thự phó

同 文 雅 樂 署 署 副

493

Đổng lý

董 理

494

Đường đầu thủ

堂 頭 守


Trang 1 (từ A - Đ) | trang 2 (từ G - L) | trang 3 (từ M - S) | trang 4 (từ T - Y)
Theo Viện nghiên cứu Hán Nôm

Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức năm thứ 9 (1478)

đăng 06:34, 14 thg 7, 2012 bởi Đức Nghiêm   [ cập nhật 00:52, 7 thg 10, 2012 bởi Mailbox Phay ]

Bia số 6 Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội: Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức năm thứ 9 (1478)

Ghi chú: Trong văn bia khoa thi này, có đề danh cụ Nghiêm Phụ đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân (số 23). 

Bài liên quan: 


VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ 
KHOA MẬU TUẤT NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC NĂM THỨ 9 (1478)

 

 洪德九年戊戌科進士題名記

洪德更化之九載、春官遵舊典、合天下舉人而試之、合格凡六十二名。五月十四日、皇上臨軒策試、閱其所對而品裁之。皇上諭旨、盛名之下、士多難副;是科進士及第無第一名、止賜黎廣志第二名、陳璧宏、黎寧第三名;其餘賜進士出身阮迪心等九名;賜同進士出身阮瓛等五十名。例高題名于石、樹諸學宮、工部因循未果立;後七年甲辰、有詔追立俾、臣敦復為之記。臣仰惟﹕國家之氣運係人材;人材之高下由科目。太祖高皇帝、革天創元之始、試以經義論策、而科目於此權輿。太宗文皇帝、繼志述事、紀綱畢張;大寶開科、人材輩出、而科目於此大振。仁宗皇帝、踵而行之、罔敢失墜。皇上中興、百廢俱舉;三年大比、疏數邊均、次第恩榮、固悉備具。自大寶壬戌至今、凡十科;其得人以供國家無窮之用、猗歟盛哉!題石以識盛事、垂永觀;詎容作輟、隸籍其間者必究。惟朝廷立石之意、端有所在盍求為忠臣為孝子、平居則敢言直諫、尊主庇民;臨事則為國忘家、見危授命;使人歷指其名曰﹕某也忠、某也直、進善斥邪、裨益於國;某也盡節為臣、不負科目;如是愈久愈不磨矣。倘或借一科以為溫飽之資、假此途以為仕宦之徑、止為身謀、遑恤國事。則人將指其名曰﹕某也奸、某也佞、某也先家後國、肥己瘠人;某也陷善黨邪、大汙科目;如是愈久愈招瑕矣。斯立石之深意、豈徒垂悠遠為榮觀而已哉!臣謹奉詔為記、又因述以致勸戒云。臣謹記。

顯恭大夫、翰林院侍書、兼秀林局司訓、臣阮敦復奉敕撰。

謹事郎中書監正字、臣蔡叔廉奉書。

茂林郎金光門待詔、臣蘇篆。

洪德十五年八月十五日立

賜第一甲三名賜進士及第

黎廣志河平府奇華縣

陳璧宏建興府天本縣

黎寧三帶府樂縣。

賜第二甲九名賜進士出身

阮迪心國威府安山縣

武瓊上洪府唐安縣

武惟善建興府天本縣

嚴琳常信府上福縣

阮士原慈山府東岸縣

黃俊良順安府嘉林縣

吳楚玉順安府善才縣

沆南策府青林縣

阮僩順安府嘉定縣

賜第三甲五十名賜同進士出身

阮瓛慈山府東岸縣

阮景貺快州府金洞縣

阮楊下洪府長津縣

郭瓚慈山府東岸縣

阮慶融應天府青威縣

武信表快州府天施縣

陳貴毅三帶府安朗縣

阮麒順安府細江縣


嚴輔慈山府東岸縣


阮紹知三帶府立石縣

阮儼慈山府東岸縣

楊昺慈山府東岸縣

阮孝忠荊門府炭山縣

裴昌澤常信府清潭縣

阮智寬下洪府四岐縣

阮薈下洪府永賴縣

阮心弘德光府羅江縣

梁榮順安府嘉林縣

費敏順安府嘉林縣

劉熙應天府青威

王克運國威府寧山縣

吳金旭荊門府安陽縣

阮謹下洪府長津縣

范勉麟順安府善才縣

陶進康順安府嘉林縣

杜佑建興府懿安縣

<˔ꟴ.춬瘡姀Ղ࣠Ղ> 河華府石河縣

阮鏜下洪府長津縣

阮美琦南策府平河縣

阮鼎弼北江府金華縣

阮簡廉慈山府東岸縣

阮壽鯨太平府瑞吳縣

阮炯應天府清威縣

阮則穎河中府弘化縣

謝能傑國威府丹鳳縣

陳允祐三帶府立石縣

黎亨鉉順安府嘉林縣

吳貞執慈山府安豊縣

楊靖三帶府安樂縣

阮德定三帶府立石縣

陳德貞洮江府山闈縣

阮敬諧德光府香山縣

陶霖順安府善才縣

黃賢德光府大祿縣

杜覲富平府普安縣

鄧珙慈山府桂陽縣

黎鑑英都府興元縣

武杰天長府西真縣

黃公党南策府青林縣

Năm thứ 9 sau khi đổi niên hiệu Hồng Đức, quan Bộ Lễ theo điển chế cũ, thi Hội các Cử nhân trong nước, chọn hạng trúng cách tất cả 62 người.

Ngày 14 tháng 5, Hoàng thượng ngự hiên điện ra bài thi, xem xét bài đối đáp để đánh giá tài năng. Hoàng thượng dụ bảo danh hiệu cao nhất sĩ tử không đạt tới. Cho nên khoa này về hàng Tiến sĩ cập đệ không có đệ nhất danh, chỉ ban cho Lê Quảng Chí đỗ Đệ nhị danh, bọn Trần Bích Hoành, Lê Ninh đỗ Đệ tam danh; còn lại ban cho bọn Nguyễn Địch Tâm 9 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Hiến 50 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Theo lệ tất cả đều được đề danh vào bia đá dựng ở nhà Thái học, nhưng Bộ Công chần chừ nên chưa dựng được. Bảy năm sau, đến năm Giáp Thìn, Hoàng thượng xuống chiếu bảo phải truy dựng, sai thần là Đôn Phục soạn bài ký.

Kính nghĩ: Khí vận quốc gia quan hệ bởi nhân tài, nhân tài cao thấp cốt do nơi khoa mục. Thái Tổ Cao hoàng đế ngay từ khi sáng lập ra triều ta đã dùng kinh nghĩa luận sách để thi học trò, khoa mục khởi thủy từ đấy. Thái Tông Văn hoàng đế nối chí kế nghiệp, mở mang kỷ cương, trong niên hiệu Đại Bảo mở khoa thi, nhân tài nối nhau xuất hiện, từ đó khoa mục đại chấn hưng. Nhân Tông hoàng đế nối theo phép cũ, không dám sơ suất.

Hoàng thượng dấy nghiệp Trung hưng, khôi phục hết thảy những việc từng bị bỏ bễ, cứ ba năm mở một khoa thi, cách nhau rất đều, thứ tự ban ơn, chu tất hoàn hảo. Từ năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo tới nay, cả thảy 10 khoa, lựa được nhân tài cho quốc gia sử dụng đến vô cùng, tốt đẹp thịnh vượng lắm thay! Lại cho khắc tên vào đá để ghi việc tốt, truyền lại sự vinh hiển cho đời sau xem biết. Há dung cho hạng người không xứng đáng trà trộn trong đó, ắt phải cứu xét kỹ lưỡng. Bởi vì ý chính của triều đình cho dựng bia khắc tên là cốt mong cho những người tôi trung con hiếu ngày thường thì can ngay nói thẳng, tôn vua giúp dân, khi gặp việc thì vì nước quên nhà, gặp gian nguy thì dám quên mình, khiến người ta chỉ vào tên mà nói: người này trung, người kia thẳng, người này dám tiến cử người tốt, bài xích kẻ gian tà, giúp ích cho nước; người nọ trọn đạo làm tôi, không thẹn danh khoa mục, được như thế thì năm tháng càng lâu mà bia càng không mòn. Còn như mượn khoa mục để cầu sự ấm no, mượn khoa danh để làm lối tắt cho đường sĩ hoạn, chỉ lo cho riêng mình, không nghĩ tới việc nước, thì người ta sẽ chỉ tên mà nói: kẻ này gian, kẻ kia nịnh, kẻ này đặt lợi nhà lên trên ích nước, ích mình hại dân, kẻ kia hãm hại người tốt, bè đảng gian tà, ô danh khoa mục, như thế thì càng lâu lại càng thêm rõ tì vết. Nay ý nghĩ sâu xa của việc dựng bia, há phải chỉ cốt lưu lại sự vẻ vang lâu dài mà thôi đâu!

Thần vâng mệnh viết bài ký, nhân đó thuật thêm vài lời để ngụ ý khuyên răn.

Thần kính cẩn làm bài ký.

Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị thư kiêm Tú lâm cục Tư huấn Nguyễn Đôn Phụcvâng sắc soạn.

Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Thái Thúc Liêm vâng sắc viết chữ (chân).

Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:

LÊ QUẢNG CHÍ 黎廣志2 người huyện Kỳ Hoa phủ Hà Bình.

TRẦN BÍCH HOÀNH 陳璧宏3 người huyện Thiên Bản phủ Kiến Hưng.

LÊ NINH 黎寧4 người huyện Yên Lạc phủ Tam Đới.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 9 người:

NGUYỄN ĐỊCH TÂM 阮迪心5 người huyện Yên Sơn phủ Quốc Oai.

VŨ QUỲNH 武瓊6 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.

VŨ DUY THIỆN 武惟善7 người huyện Thiên Bản phủ Kiến Hưng.

NGHIÊM LÂM người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.

NGUYỄN SĨ NGUYÊN 阮士原9người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.

HOÀNG ĐỨC LƯƠNG 黃德良10 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.

NGÔ SỞ NGỌC 吳楚玉11 người huyện Thiện Tài phủ Thuận An.

NINH HÃNG 寧沆12 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.

NGUYỄN GIẢN 阮僩13 người huyện Gia Định phủ Thuận An.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 50 người:

NGUYỄN HIẾN 阮憲14 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.

ĐÀO CẢNH HUỐNG 陶景況15 người huyện Kim Động phủ Khoái Châu.

NGUYỄN DƯƠNG KỲ 阮陽祺16 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.

QUÁCH TOẢN 郭瓚17 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.

NGUYỄN KHÁNH DUNG 阮慶融18 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.

DOÃN HOÀNH TUẤN 允宏濬19 người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.

VŨ TÍN BIỂU 武信表20 người huyện Thiên Thi phủ Khoái Châu.

TRẦN QUÝ NGHỊ 陳貴毅21 người huyện Yên Lãng phủ Tam Đới.

NGUYỄN KỲ 阮麒22 người huyện Tế Giang phủ Thuận An.


NGHIÊM PHỤ 嚴輔23 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.


NGUYỄN THIỆU TRI 阮紹知24 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.

NGUYỄN NGHIỄM 阮儼25 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.

DƯƠNG BÍNH 陽昺26 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.

NGUYỄN HIẾU TRUNG 阮孝忠27 người huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn.

BÙI XƯƠNG TRẠCH 裴昌澤28 người huyện Thanh Đàm phủ Thường Tín.

NGUYỄN TRÍ KHOAN 阮知寬29 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.

NGUYỄN CỐI 30 người huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng.

NGUYỄN TÂM HOẰNG 阮心弘31 người huyện La Giang phủ Đức Quang.

LƯƠNG VINH 梁榮32 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.

PHÍ MẪN 費敏33 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.

LƯU HY 劉熙34 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.

VƯƠNG KHẮC MẠI 王克邁35 người huyện Ninh Sơn phủ Quốc Oai.

NGÔ KIM HÚC 吳金旭36 người huyện An Dương phủ Kinh Môn.

NGUYỄN CẨN 阮謹37 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.

PHẠM MIỄN LÂN 范勉麟38 người huyện Thiên Tài phủ Thuận An.

ĐÀO TIẾN KHANG 陶進康39 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.

ĐỖ HỰU 杜佑40 người huyện Yên phủ Kiến Hưng.

TRẦN SẢNH 陳靚 41 người huyện Thạch Hà phủ Hà Hoa.

NGUYỄN ĐƯỜNG 阮鐺42 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.

NGUYỄN NGHĨA KỲ 阮義琦43 người huyện Bình Hà phủ Nam Sách.

NGUYỄN ĐỈNH BẬT 阮鼎弼44 người huyện Kim Hoa phủ Bắc Giang.

NGUYỄN GIẢN LIÊM 阮簡廉45 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.

NGUYỄN THỌ KÌNH 阮壽鯨46 ngườihuyện Thụy Anh phủ Thái Bình.

NGUYỄN QUÝNH 阮炯47 người người huyện Thanh Oai phủ ng Thiên.

NGUYỄN TẮC DĨNH 阮則穎48 người huyện Hoằng Hóa phủ Hà Trung.

TẠ HÙNG KIỆT 謝熊傑49người huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai.

TRẦN DOÃN HỰU 陳允佑50 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.

LÊ HANH HUYỄN 黎亨鉉51 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.

NGÔ TRINH CHẤP 52 người huyện Yên Phong phủ Từ Sơn.

DƯƠNG TĨNH 楊靖53 người huyện Yên Lạc phủ Tam Đới.

NGUYỄN ĐỨC ĐỊNH 阮德定54 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.

TRẦN ĐỨC TRINH 55người huyện Sơn Vi phủ Thao Giang.

NGUYỄN KÍNH HÀI 阮敬諧56 người huyện Hương Sơn phủ Đức Quang.

ĐÀO LÂM 陶霖57 người huyện Thiện Tài phủ Thuận An.

HOÀNG HIỀN 黃賢58 người huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang.

ĐỖ CẬN 杜覲59 người huyện Phổ Yên phủ Phú Bình.

ĐẶNG CUNG 鄧珙60 người huyện Quế Dương phủ Từ Sơn.

LÊ GIÁM 黎鑑61 người huyện Hưng Nguyên phủ Anh Đô.

VŨ KIỆT 武杰62 người huyện Tây Chân phủ Thiên Trường.

HOÀNG CÔNG ĐẢNG 黃公党63người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.

Đề điệu:

Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thái phó Kỳ Quận công Thượng trụ quốc Lê Niệm.

Phụng trực đại phu Thượng thư Bộ Lại Tư chính Thượng khanh Hoàng Nhân Thiệm.

Độc quyển:

Thông chương đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Tư chính khanh Thân Nhân Trung.

Tả Thị lang Bộ Lễ kiêm Quốc tử giám Tế tửu Nguyễn Như Đổ.

Triều liệt đại phu Đông các Học sĩ Tu thiện doãn Quách Đình Bảo.

Triều liệt đại phu Quốc tử giám Tư nghiệp kiêm Sử quán Tu soạn Tu thiện doãn Ngô Sĩ Liên.

Giám thí:

Tả Thị lang Bộ Hình Triều liệt đại phu Tu thiện doãn Nguyễn Tường.

Hữu Thị lang Bộ Công Đạt tín đại phu Tu thiện thiếu doãn Ngô Đức Thanh.

Chú thích:

1. Nguyễn Đôn Phục (?-?) người xã Tri Lễ huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Tân Ước huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ và được cử đi sứ (năm 1474) sang nhà Minh (Trung Quốc).

2. Lê Quảng Chí (1454-?) hiệu Hoành Sơn, người xã Thần Đầu huyện Kỳ Hoa (nay thuộc huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Đông các Đại học sĩ, Tả Thị lang Bộ Lễ đứng đầu Hàn lâm viện. Vua Lê Thánh Tông rất trọng đãi ông, sau khi mất, ông được thăng Thượng thư.

3. Trần Bích Hoành (1452-?) người xã Vân Cát huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Kim Thái huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Ông làm quan Đông các.

4. Lê Ninh (1448-?) người xã Thụ Ích huyện Yên Lạc (nay thuộc xã Liên Châu huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Hộ bộ Tả Thị lang, kiêm Vương phó và từng được cử đi sứ. Khi mất, ông được tặng chức Thượng thư.

5. Nguyễn Địch Tâm (1461-?) người xã Hoàng Xá huyện Ninh Sơn (nay thuộc huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư, tước An Quận công, hàm Thiếu bảo.

6. Vũ Quỳnh (1453-1497) hiệu là Đốc Trai và Trạchtự làThủ Phácvà Yến Ôn , người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Công, Thượng thư Bộ Lễ, Thượng thư Bộ Binh, Nhập thị Kinh diên kiêm Quốc tử giám Tư nghiệp, Sử quán Tổng tài và là người có tài văn thơ.

7. Vũ Duy Thiện (?-?) người xã An Cự huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Đại An huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Ông làm quan Hiến sát sứ, Nhập thị Kinh diên, tước tử và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

8. Nghiêm Lâm (?-?) người xã La Phù huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã La Phù huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tự khanh.

9. Nguyễn Sĩ Nguyên (1451-?) người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng bảo Tự khanh, Lục cấp Sự trung sự.

10. Hoàng Đức Lương (?-?) nguyên quán xã Cửu Cao huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cửu Cao huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Ngọ Cầu (nay thuộc thị trấn Như Quỳnh huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan thăng đến chức Tả Thị lang Bộ Hộ và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

11. Ngô Sở Ngọc (?-?) người xã Văn Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Phú Hoà huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

12. Ninh Hãng (?-?) nguyên quán xã Lan Đình huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đồng Lạc huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hiến sát sứ.

13. Nguyễn Giản (?-?) người xã Đông Côi huyện Gia Định (nay thuộc xã An Bình huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Công.

14. Nguyễn Hiến (?-?) người xã Đông Xuất huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đông Thọ huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thị lang.

15. Đào Cảnh Huống (1434-?) người xã Phán Thủy huyện Kim Động (nay thuộc xã Song Mai huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ.

16. Nguyễn Dương Kỳ (?-?) người xã Cao Duệ huyện Trường Tân (nay thuộc xã Nhật Tân huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thị lang.

17. Quách Toản (1452-?) người xã Phù Đàm huyện Đông Ngàn (nay thuộc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hàn lâm và hai lần được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

18. Nguyễn Khánh Dung (?-?) người xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Oai (nay là xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông làm quan Quốc tử giám Tế tửu.

19. Doãn Hoành Tuấn (?-?) người xã An Duyên huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tô Hiệu huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư và từng được cử đi sứ (năm 1480) sang nhà Minh (Trung Quốc).

20. Vũ Tín Biểu (1449-?) người xã Bình Lăng huyện Thiên Thi (nay thuộc xã Tiền Phong huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

21. Trần Quý Nghị (?-?) người xã Thanh Lãng huyện Yên Lãng (nay thuộc xã Thanh Lãng thị trấn Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư. Có sách chép là Trần Quí Đôn.

22. Nguyễn Kỳ (1443-?) người xã Như Lân huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Công và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).


23. Nghiêm Phụ (?-?) người xã Lan Độ huyện Đông Ngàn (nay thuộc huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thừa chính sứ.


24. Nguyễn Thiệu Tri (1442-1533) người xã Xuân Lôi huyện Lập Thạch (nay là xã Xuân Lôi huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hộ. Sau khi mất, ông được phong phúc thần.

25. Nguyễn Nghiễm (1419-?) nguyên quán xã An Từ huyện Đông Ngàn, trú quán xã Bình Sơn cùng huyện (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tham chính.

26. Dương Bính (?-?) người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn (nay là xã Liên Hà huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thừa chính sứ.

27. Nguyễn Hiếu Trung (?-?) người xã Kênh Dao huyện Giáp Sơn (nay thuộc xã An Hưng huyện An Hải Tp. Hải Phòng. Ông làm quan Giám sát Ngự sử.

28. Bùi Xương Trạch (1438-1516) nguyên quán xã Định Công huyện Thanh Đàm (nay thuộc phường Định Công quận Hoàng Mai Tp. Hà Nội), trú quán xã Thịnh Liệt huyện Thanh Đàm (nay thuộc xã Thịnh Liệt huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông Làm quan Thượng thư, Chưởng Lục bộ sự kiêm Đô Ngự sử, Quốc tử giám Tế tửu, Tri Kinh diên sự, Thái phó, tước Quảng Quốc công và từng đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

29. Nguyễn Trí Khoan (?-?) người xã Phan Xá huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Hoàng Diệu huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thị lang.

30. Nguyễn Cối (?-?) người xã Hội Am huyện Vĩnh Lại (nay thuộc xã Cao Minh huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng. Ông làm quan đến Tự khanh.

31. Nguyễn Tâm Hoằng (1434-?) người xã Lai Thạch huyện La Giang (nay thuộc xã Song Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ.

32. Lương Vinh (?-?) người xã Cổ Bi huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cổ Bi huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Binh khoa Cấp sự trung.

33. Phí Mẫn (?-?) người xã Cửu Cao huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cửu Cao huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông từng làm quan Thừa chính sứ.

34. Lưu Hy (?-?) người xã Thượng Thanh Oai huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Văn Khê thị xã Hà Đông tỉnh Hà Tây). Ông làm quan đến Hiến sát sứ.

35. Vương Khắc Mại (1448-?) người xã Yên Nội huyện Ninh Sơn (nay thuộc xã Đồng Quang huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang và từng được cử đi sứ.

36. Ngô Kim Húc (?-?) người xã Hàng Kênh huyện An Dương (nay là phường Hàng Kênh quận Lê Chân Tp. Hải Phòng). Ông làm quan đến Lại khoa Đô Cấp sự trung.

37. Nguyễn Cẩn (?-?) người xã Đoàn Xá huyện Trường Tân (nay thuộc xã Quang Phục huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.

38. Phạm Miễn Lân (?-?) người xã Hoa Cầu huyện Thiện Tài (nay thuộc xã An Thịnh huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Đình uý sứ.

39. Đào Tiến Khang (?-?) người xã Xuân Đổ huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cự Khối huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thừa chính sứ.

40. Đỗ Hựu (1441-?) người xã Đại Nhiễm huyện Ý Yên (nay thuộc huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

41. Trần Sảnh (1431-?) người xã Ngọc Luỹ huyện Thanh Hà (nay thuộc xã Thạch Thường huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.

42. Nguyễn Đường (?-?) người xã Hồng Lục huyện Trường Tân (nay thuộc xã Tân Hưng huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

43. Nguyễn Nghĩa Kỳ (?-?) người xã Tiên Táo huyện Bình Hà (nay thuộc xã Thanh An huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

44. Nguyễn Đỉnh Bật (1438-?) người xã Cán Khê huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Nguyên Khê huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tham Chính. Có tài liệu ghi là Quách Đỉnh Bật.

45. Nguyễn Giản Liêm (1453-?) người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.

46. Nguyễn Thọ Kình (?-?) người xã Kha Lý huyện Thụy Anh (nay thuộc xã Thụy Quỳnh huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông làm quan đến Tự khanh.

47. Nguyễn Quýnh (?-?) người xã Bối Khê huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Tam Hưng huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Đề hình Giám sát Ngự sử.

48. Nguyễn Tắc Dĩnh (1447-?) người xã Lam Kiều huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Quảng Văn huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hộ.

49. Tạ Hùng Kiệt (1444-1514) người xã Hương Bảng huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Song Phương huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang. Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư. Có sách ghi ông là Tạ Năng Kiệt.

50. Trần Doãn Hựu (?-?) người xã Sơn Đông huyện Lập Thạch (nay là xã Sơn Đông huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư.

51. Lê Hanh Huyễn (1458-?) người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Tân Quang huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.

52. Ngô Trinh Chấp (?-?) người xã Xuân Lôi huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

53. Dương Tĩnh (1455-?) người xã Vĩnh Mỗ huyện Yên Lạc (nay thuộc xã Minh Tân huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Công.

54. Nguyễn Đức Định (1444-?) người xã Vân Chương huyện Lập Thạch (nay thuộc xã Tử Du huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Ngoại lang.

55. Trần Đức Trinh (1454-?) người xã Thạch Lỗi huyện Sơn Vi (nay thuộc huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ). Ông làm quan Thị lang. Có sách ghi là Nguyễn Đức Trinh.

56. Nguyễn Kính Hài (1448-?) người xã Tân Ốc huyện Hương Sơn (nay thuộc huyện Yên Sơn tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Hiến sát sứ.

57. Đào Lâm (1461-?) người xã Đăng Triều huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Trừng Xá huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Sau ông lại thi đỗ khoa Đông các và làm quan Hàn lâm.

58. Hoàng Hiền (?-?) người xã Kiệt Thạch huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Thanh Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Lễ khoa Cấp sự trung Hiến sát sứ.

59. Đỗ Cận (1434-?) hiệu là Phổ Sơnvà tự là Hữu Khác , người xã Thống Thượng huyện Phổ Yên (nay thuộc huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên). Ông làm quan Thượng thư và được cử đi sứ (năm 1483) sang nhà Minh (Trung Quốc). Ông vốn tên Đỗ Viễn, vua Lê Thánh Tông đổi tên là Đỗ Cận nhưng có sách vẫn ghi ông là Đỗ Viễn.

60. Đặng Cung (1460-?) người xã Vân Đoàn huyện Quế Dương (nay thuộc xã Châu Phong huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm đến Hàn lâm viện Hiệu thảo.

61. Lê Giám (1452-?) người xã Phù Long huyện Hưng Nguyên (nay thuộc huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Lại, Nhập thị Kinh diên.

62. Vũ Kiệt (?-?) người xã Sa Lung huyện Tây Châu (nay thuộc xã Đồng Sơn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định). Ông làm quan đến Cấp sự trung.

63. Hoàng Công Đảng (?-?) nguyên quán thôn Man Nhuế huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Nam Trung huyện Nam Sách), trú quán xã Đồng Khê (nay thuộc xã An Lâm cùng huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư, tước Phú Thọ nam, được về trí sĩ.



Tham khảo: Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức năm thứ 9 (1478) - Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Niên hiệu các triều vua Việt Nam

đăng 06:32, 14 thg 7, 2012 bởi Đức Nghiêm   [ cập nhật 00:52, 7 thg 10, 2012 bởi Mailbox Phay ]

NIÊN HIỆU & NIÊN ĐẠI CÁC TRIỀU VUA VIỆT NAM 

Ghi chú về giai đoạn chưa có niên hiệu khi mới khôi phục độc lập: 
- 905-930 : Họ Khúc (chưa xưng vương) 
- 931-937 : Dương Đình Nghệ 
- 938-944 : Ngô Quyền 
- 945-950 : Dương Tam Kha 
- 951-965 : Ngô Xương Văn (Nam Tấn Vương) 
- 966-969 :12 Sứ quân 

(Xếp theo thứ tự Tây lịch, chú ý triều Lê và Mạc có đan xen )

Niên hiệu

Chữ Hán

Tây lịch

Tên vua

Đại Đức (Thiên Đức)

大德

544-548

Lý Nam Đế

Thiên Đức (Đại Đức)

天德

544-548

Lý Nam Đế

Thái Bình

太平

970-979

Đinh Tiên Hoàng

Thiên Phúc

天福

980

Đinh Toàn (Đinh Phế Đế)

Thiên Phúc

天福

980-988

Lê Hoàn

Hưng Thống

興統

989-993

Lê Hoàn

Ứng Thiên

應天

994-1005

Lê Hoàn

Ứng Thiên

應天

1005-1007

Lê Ngọa Triều

Cảnh Thụy

景瑞

1008-1009

Lê Ngọa Triều

Thuận Thiên

順天

1010-1028

Lý Thái Tổ

Thiên Thành

天成

1028-1034

Lý Thái Tông

Thông Thụy

通瑞

1034-1039

Lý Thái Tông

Càn Phù Hữu Đạo

乾符有道

1039-1042

Lý Thái Tông

Minh Đạo

明道

1042-1044

Lý Thái Tông

Thiên Cảm Thánh Vũ

天感聖武

1044-1049

Lý Thái Tông

Sùng Hưng Đại Bảo

崇興大寶

1049-1054

Lý Thái Tông

Long Thụy Thái Bình

龍瑞太平

1054-1058

Lý Thánh Tông

Chương Thánh Gia Khánh

彰聖嘉慶

1059-1065

Lý Thánh Tông

Long Chương Thiên Tự

龍彰天嗣

1066-1068

Lý Thánh Tông

Thiên Huống Bảo Tượng

天貺寶象

1068-1069

Lý Thánh Tông

Thần Vũ

神武

1069-1072

Lý Thánh Tông

Thái Ninh

太寧

1072-1076

Lý Nhân Tông

Anh Vũ Chiêu Thắng

英武昭勝

1076-1084

Lý Nhân Tông

Quảng Hựu

廣祐

1085-1092

Lý Nhân Tông

Hội Phong

會豐

1092-1100

Lý Nhân Tông

Long Phù

龍符

1101-1109

Lý Nhân Tông

Hội Tường Đại Khánh

會祥大慶

1110-1119

Lý Nhân Tông

Thiên Phù Duệ Vũ

天符睿武

1120-1126

Lý Nhân Tông

Thiên Phù Khánh Thọ

天符慶壽

1127

Lý Nhân Tông

Thiên Thuận

天順

1128-1132

Lý Thần Tông

Thiên Chương Bảo Tự

天彰寶嗣

1133-1138

Lý Thần Tông

Thiệu Minh

紹明

1138-1140

Lý Anh Tông

Đại Định

大定

1140-1162

Lý Anh Tông

Chính Long Bảo Ứng

政龍寶應

1163-1174

Lý Anh Tông

Thiên Cảm Chí Bảo

天感至寶

1174-1175

Lý Anh Tông

Trinh Phù

貞符

1176-1186

Lý Cao Tông

Thiên Tư Gia Thụy

天資嘉瑞

1186-1202

Lý Cao Tông

Thiên Gia Bảo Hựu

天嘉寶祐

1202-1205

Lý Cao Tông

Trị Bình Long Ứng

治平龍應

1205-1210

Lý Cao Tông

Kiến Gia

建嘉

1211-1224

Lý Huệ Tông

Thiên Chương Hữu Đạo

天彰有道

1224-1225

Lý Chiêu Hoàng

Kiến Trung

建中

1225-1232

Trần Thái tông

Thiên Ứng Chính Bình

天應政平

1232-1251

Trần Thái Tông

Nguyên Phong

元豐

1251-1258

Trần Thái Tông

Thiệu Long

紹隆

1258-1272

Trần Thánh Tông

Bảo Phù

寶符

1273-1278

Trần Thánh Tông

Thiệu Bảo

紹寶

1279-1285

Trần Nhân Tông

Trùng Hưng

重興

1285-1293

Trần Nhân Tông

Hưng Long

興隆

1293-1314

Trần Anh Tông

Đại Khánh

大慶

1314-1323

Trần Minh Tông

Khai Thái

開泰

1324-1329

Trần Minh Tông

Khai Hựu

開祐

1329-1341

Trần Hiến Tông

Thiệu Phong

紹豐

1341-1357

Trần Dụ Tông

Đại Trị

大治

1358-1369

Trần Dụ Tông

Đại Định

大定

1369-1370

Dương Nhật Lễ

Thiệu Khánh

紹慶

1370-1372

Trần Nghệ Tông

Long Khánh

隆慶

1372-1377

Trần Duệ Tông

Xương Phù

昌符

1377-1388

Trần Phế Đế

Quang Thái

光泰

1388-1389

Trần Thuận Tông

Kiến Tân

建新

1398-1400

Trần Thiếu Đế

Thánh Nguyên

聖元

1400

Hồ Quý Ly

Thiệu Thành

紹成

1401-1402

Hồ Hán Thương

Khai Đại

開大

1403-1407

Hồ Hán Thương

Hưng Khánh

興慶

1407-1408

Giản Định Đế (Trần Ngỗi)

Trùng Quang

重光

1409-1413

Trần Quý Khoáng

Thuận Thiên

順天

1428-1433

Lê Thái Tổ

Thiệu Bình

紹平

1434-1439

Lê Thái Tông

Đại Bảo(Thái Bảo)

大寶

1440-1442

Lê Thái Tông

Thái Hòa (Đại Hòa)

 (

1443-1453

Lê Nhân Tông

Diên Ninh

延寧

1454-1459

Lê Nhân Tông

Thiên Hưng

天興

1459-1460

Lê Nghi Dân

Quang Thuận

光順

1460-1469

Lê Thánh Tông

Hồng Đức

洪德

1470-1497

Lê Thánh Tông

Cảnh Thống

景統

1498-1504

Lê Hiến Tông

Thái Trinh

太貞

1504

Lê Túc Tông

Đoan Khánh

端慶

1505-1509

Lê Uy Mục

Hồng Thuận

洪順

1509-1516

Lê Tương Dực

Quang Thiệu

光紹

1516-1522

Lê Chiêu Tông

Thống Nguyên

統元

1522-1527

Lê Cung Hoàng

Minh Đức

明德

1527-1529

Mạc Thái Tổ

Đại Chính

大正

1530-1540

Mạc Thái tông

Nguyên Hòa

元和

1533-1548

Lê Trang Tông

Quảng Hòa

廣和

1540-1546

Mạc Hiến Tông

Vĩnh Định

永定

1547

Mạc Tuyên Tông

Cảnh Lịch

1548-1553

Mạc Tuyên Tông

Thuận Bình

順平

1548-1556

Lê Trung Tông

Quang Bảo

光寶

1554-1561

Mạc Tuyên Tông

Thiên Hựu

天祐

1556-1557

Lê Anh Tông

Chính Trị

正治

1558-1571

Lê Anh Tông

Thuần Phúc

淳福

1562-1565

Mạc Mậu Hợp

Sùng Khang

崇康

1566-1577

Mạc Mậu Hợp

Hồng Phúc

洪福

1572-1573

Lê Anh Tông

Gia Thái

嘉泰

1573-1577

Lê Thế Tông

Diên Thành

延成

1578-1585

Mạc Mậu Hợp

Quang Hưng

光興

1578-1599

Lê Thế Tông

Đoan Thái

端泰

1586-1587

Mạc Mậu Hợp

Hưng Trị

興治

1588-1590

Mạc Mậu Hợp

Hồng Ninh

洪寧

1591-1592

Mạc Mậu Hợp

Bảo Định

寶定

1592

Mạc Kính Chỉ

Vũ An

武安

1592-1593

Mạc Kính Toàn

Khang Hựu

康祐

1593

Mạc Kính Chỉ

Càn Thống

乾統

1593-1625

Mạc Kính Cung

Thận Đức

慎德

1600-1601

Lê Kính Tông

Hoằng Định

弘定

1601-1619

Lê Kính Tông

Vĩnh Tộ

永祚

1619-1629

Lê Thần Tông

Đức Long

陽和

1629-1635

Lê Thần Tông

Long Thái

龍泰

1623-1638

Mạc Kính Khoan

Dương Hòa

德龍

1635-1643

Lê Thần Tông

Thuận Đức

順德

1638-1677

Mạc Kính Vũ

Phúc Thái

福泰

1643-1649

Lê Chân Tông

Khánh Đức

慶德

1649-1653

Lê Thần Tông

Thịnh Đức

盛德

1653-1658

Lê Thần Tông

Vĩnh Thọ

永壽

1658-1662

Lê Thần Tông

Vạn Khánh

萬慶

1662

Lê Thần Tông

Cảnh Trị

景治

1663-1671

Lê Huyền Tông

Dương Đức

陽德

1672-1674

Lê Gia Tông

Đức Nguyên

德元

1674-1675

Lê Gia Tông

Vĩnh Trị

永治

1676-1679

Lê Hy Tông

Chính Hòa

正和

1680-1705

Lê Hy Tông

Vĩnh Thịnh

永盛

1705-1720

Lê Dụ Tông

Bảo Thái

保泰

1720-1729

Lê Dụ Tông

Vĩnh Khánh

永慶

1729-1732

Lê Đế Duy Phường

Long Đức

龍德

1732-1735

Lê Thuần Tông

Vĩnh Hựu

永祐

1735-1740

Lê Ý Tông

Cảnh Hưng

景興

1740-1786

Lê Hiển Tông

Thái Đức

泰德

1778-1793

Nguyễn Nhạc

Chiêu Thống

昭統

1786-1788

Lê Chiêu Thống (Mẫn Đế)

Quang Trung

光中

1788-1792

Nguyễn Huệ

Cảnh Thịnh

景盛

1793-1801

Nguyễn Quang Toản

Gia Long

嘉隆

1802-1819

Nguyễn Thế Tổ

Minh Mạng

明命

1820-1840

Nguyễn Thánh Tổ

Thiệu Trị

紹治

1841-1847

Nguyễn Hiến Tổ (Miên Tông)

Tự Đức

嗣德

1848-1883

Nguyễn Dực Tông

Dục Đức

育德

1883

Nguyễn Dục Đức

Hiệp Hòa

協和

1883

Nguyễn Hiệp Hòa

Kiến Phúc

建福

1883